Từ tháng 1/2015, em có làm việc cho công ty môi giới bất động sản. Đến tháng 3 em có ký cho công ty 1 bản hợp đồng lao động để công ty đi nộp trên thuế. Công ty vẫn trả lương cho em bình thường nhưng đến tháng 3 thì bắt đầu xảy ra tình trạng nợ lương dài hạn. Từ tháng 3 đến tháng 6/2015 em không được trả lương. Vì làm kinh doanh nên em được chủ nhà tin tưởng giao lại tiền mô giới để mang về công ty, trong quá trình nợ lương thì em vẫn mang về cho công ty bình thường, nhưng đến tháng 7 giám đốc bên em trở mặt bắt em đi làm 9h/ngày mà không được trả lương ngoài giờ, em không đồng ý nên đã nghỉ từ tháng 7. Sau khi nghỉ giám đốc bên em cũng k có ý định trả lương, em có cầm một số tiền của công ty nên đã tự làm việc với kế toán để lấy lương nhưng công ty vẫn đang nợ của e 1 tháng lương là 6triệu đồng. Đến tháng 9/2015 em có nhận của chủ nhà tiền phí tư vấn lần 2 là 550 Usd. Nhưng em không đưa về công ty mà trừ luôn vào số nợ công ty bên em còn nợ. Bây giờ giám đốc bên em đòi khởi kiện em tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chiếm đoạt tài sản của công ty. Khi nghỉ việc em không hề có đơn xin nghỉ và cũng không có quyết định cho nghỉ của công ty, em cũng không được đóng bảo hiểm theo qui định. Vậy em xin hỏi tội danh trên của em có được hình thành hay không?

Em rất mong có được sự tư vấn của anh chị! Em xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009

Nội dung trả lời:

Thứ nhất, việc công ty không trả lương cho bạn, yêu cầu bạn làm việc 9h/ngày mà không trả lương làm thêm thì bạn có thể yêu cầu công ty, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết quyền lợi cho mình theo quy định của pháp luật về lao động mà không được phép tự ý chiếm đoạt tài sản của công ty.

Thứ hai, muốn biết hành vi của bạn có cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không, cần xem xét các dấu hiệu của tội này.

Theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản...’’

Dấu hiệu của tội phạm này như sau: Người phạm tội có hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và kết quả là người phạm tội có quyền về tài sản một cách hợp pháp.Như vậy trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người phạm tội đã có tài sản hợp pháp bằng một hợp đồng khác với các tội phạm khác, người phạm tội chỉ có thể có tài sản sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt.Sau khi có tài sản người phạm tội đã không thực hiên nghĩa vụ tài sản theo hợp đồng mà có ý chiếm đoạt tài sản đó bằng một trong các thủ đoạn: Gian dối; bỏ trốn; sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.Chủ thể của tội phạm này là người đủ năng lực TNHS và đủ tuổi chịu TNHS.
Hành vi của bạn không cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì:

- Việc bạn có được tài sản không thông qua hình thức vay, mượn, thuê tài sản hoặc thông qua các hình thức hợp đồng.

- Sau khi có được tài sản, không xảy ra dấu hiệu gian dối, bỏ trốn hay sử dụng tài sản bảo mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Việc bạn rời khỏi công ty xảy ra trước khi bạn có được tài sản vì vậy không thể coi là bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, công ty vẫn có thể khởi kiện bạn về hành vi khác như lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."
Dấu hiệu pháp lý của tội này như sau:
- Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác

- Xâm hại đến quyền sở hữu của người khác

- Cố ý thực hiện hành vi

- Giá trị tài sản từ 2 triệu trở lên

Xét thấy, việc bạn rời khỏi công ty, không làm việc, không hưởng lương trong vòng hai tháng nhưng lại nhân danh công ty để thực hiện giao dịch với khách hàng để lấy được số tiền tư vấn cho khách. Dấu hiệu này có thể được coi là dùng thủ đoạn gian dối. Sau khi có được số tiền 550Usd bạn cố ý không đưa về công ty mà trừ vào số tiền công ty nợ mình. Điều này cho thấy bạn đã có ý muốn dịch chuyển tài sản ngoài ý muốn của chủ sở hữu. Số tiền mà bạn lấy của công ty là 550Usd tương đương khoảng 12 triệu Việt Nam đồng. Do đó, hành vi của bạn có thể đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, dấu hiệu phạm tội của bạn chưa thực sự rõ ràng. Vì vậy, bạn nên trả lại số tiền cho công ty trong thời gian sớm nhất và giải quyết quyền lợi của mình với công ty theo quy định của pháp luật lao động.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn 1900.6162

Trân trọng!

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hình sự .