1. Thời gian giải quyết nội dung đơn tố cáo được quy định như thế nào?

Thưa luật sư! Em chào anh chị luật sư em bị người khác hiểu lầm nên họ đã bôi nhọ,nói xấu và vu khống lên mạng xã hội facebook bằng những lời nói không hay đi kèm là những hình ảnh của em và người yêu em (nay là vợ) đăng lên group ở công ty. Phòng đó có 28. 000 thành viên và chủ yếu nhân viên trong công ty khiến em rất bức xúc và xấu hổ vô cùng.

Thêm vào đó họ còn nhắn tin với vợ em nhằm chia rẽ 2 vợ chồng. Họ lại vu khống,nói xấu mẹ em cho vợ e biết. Họ đã đăng lên nói xấu em 1 lần rồi nhưng em cho qua. Lần này là lần thứ 2 nên em đã gửi đơn tố cáo lên công an huyện và họ đã gặp em và người bôi nhọ lấy lời khai cách đây 1 tháng rồi ( người cùng huyện) nhưng chưa có kết quả là được xử lý hay chưa. Em có gọi điện cho công an họ nói đã gửi tra cứu lên tỉnh rồi. Tỉnh trả lời tra cứu sau gửi về huyện mới có quyết định xử phạt. Chắc tuần sau có thông báo nhưng chưa chắc chắn ngày nào. Anh chị tư vấn cho em hỏi là công an nói vậy có đúng quy trình xử lý đơn tố cáo không ạ. Nếu mà có quyết định xử phạt thì họ sẽ thông báo cho em biết chứ ạ. Và giấy tờ như thế nào ạ. Nếu mà hơn 2 tháng công an không xử lý xong đơn tố cáo của em thì em sẽ viết đơn như thế nào và gửi cho ai. Trường hợp người bôi nhọ như trên thì bị xử lý như thế nào ạ ?

Em mong luật sư trả lời tư vấn giúp em cuối cùng em xin chúc luật sư nhiều sức khỏe và hạnh phúc. Em xin cảm ơn.

Thời gian giải quyết nội dung đơn tố cáo được quy định như thế nào?

Luật sư tư vấn luật tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, về quy trình xử lí hồ sơ của công an như sau:

Điều 8. Tiếp nhận, xử lý tố cáo tiếp và giải quyết lại tố cáo (Thông tư 06/2013/TT-TTCP quy định quy trình giải quyết tố cáo)

1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo tiếp, người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo xem xét, xử lý như sau:

a) Trong trường hợp đã quá thời hạn giải quyết tố cáo mà vụ việc chưa được giải quyết hoặc có nội dung tố cáo chưa được giải quyết thì yêu cầu người có trách nhiệm giải quyết tố cáo phải giải quyết, đồng thời yêu cầu báo cáo rõ lý do về việc chưa giải quyết tố cáo.

b) Đối với tố cáo đã được giải quyết đúng pháp luật nhưng có tình tiết mới chưa được phát hiện trong quá trình giải quyết tố cáo có thể làm thay đổi kết quả giải quyết tố cáo thì yêu cầu người đã giải quyết tố cáo phải tiếp tục giải quyết tố cáo đó theo thẩm quyền.

c) Khi phát hiện một trong những dấu hiệu vi phạm pháp luật được quy định tại Khoản 2 Điều này thì phải thụ lý, giải quyết lại tố cáo đó. Trình tự, thủ tục giải quyết lại tố cáo được thực hiện theo quy định tại Thông tư này.

d) Trong trường hợp tố cáo tiếp không có tình tiết mới, không phát hiện dấu hiệu vi phạm pháp luật thì không thụ lý giải quyết, đồng thời thông báo bằng văn bản cho người tố cáo, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan theo quy định tại Khoản 3 Điều 7 Thông tư này.

Căn cứ vào Luật tố cáo năm 2011 thì thời hạn để giải quyết đơn tố cáo

Thời hạn giải quyết tố cáo

1. Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo.

2. Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn thời hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày.

Nếu trong trường hợp bạn có yêu cầu thông báo kết quả giải quyết tố cáo thì người giải quyết tố cáo gửi thông báo bằng văn bản về kết quả giải quyết tố cáo cho người tố cáo. Thông báo kết quả giải quyết tố cáo phải nêu rõ kết luận nội dung tố cáo, việc xử lý người bị tố cáo, trừ những nội dung thuộc bí mật nhà nước. Nếu quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết thì anh có quyền gửi đơn tố cáo tiếp với người đứng đầu cơ quan cấp trên trực tiếp của người có trách nhiệm giải quyết tố cáo.

Thứ hai, về chế tài xử lí người vu khống. Điều 122 Bộ luật hình sự năm 2009 quy định:

Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Ngoài ra, nếu người vu khống bạn là viên chức thì họ còn có thể bị xử lí theo Điều 52 Luật viên chức năm 2010 .

Điều 52. Các hình thức kỷ luật đối với viên chức

1. Viên chức vi phạm các quy định của pháp luật trong quá trình thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau:

a) Khiển trách;

b) Cảnh cáo;

c) Cách chức;

d) Buộc thôi việc.

2. Viên chức bị kỷ luật bằng một trong các hình thức quy định tại khoản 1 Điều này còn có thể bị hạn chế thực hiện hoạt động nghề nghiệp theo quy định của pháp luật có liên quan.

3. Hình thức kỷ luật cách chức chỉ áp dụng đối với viên chức quản lý.

4. Quyết định kỷ luật được lưu vào hồ sơ viên chức.

5. Chính phủ quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục và thẩm quyền xử lý kỷ luật đối với viên chức.”

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Cách thức xử lý đơn tố cáo của công dân ?

Thưa luật sư, Câu hỏi: Có khái niệm "Đơn kiến nghị mang nội dung tố cáo" không? Thực tế UBND xã nhận được 1 lá đơn của 1 công dân có tên X, có HKTT tại địa phương kiến nghị UBND xã về việc: tôi phát hiện 1 công dân đã lợi dụng vị trí của mình để thu của nhân dân, giữ lại, không công khai số tiền là 68 triệu 800 ngàn đồng (thu của 43 người). Thu và sử dụng sai mục đích số tiền là 107 triệu 300 ngàn đồng (của 43 người). Vậy UBND xã phải xử lý đơn theo quy trình nào?
Xin cám ơn Công ty Luật Minh Khuê đã tiếp nhận ý kiến và tư vấn.

Cách thức xử lý đơn tố cáo của công dân ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về quyền tố cáo, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật, không có khái niệm “Đơn kiến nghị mang nội dung tố cáo”.

Kiến nghị và tố cáo là hai hình thức văn bản hành chính riêng biệt, phục vụ những mục đích khác nhau, được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật.

Kiến nghị là việc cá nhân hoặc tổ chức (chủ thể kiến nghị) đưa ra ý kiến để phản ánh, đề nghị với cấp có thẩm quyền xử lý, điều chỉnh một lĩnh vực hay giải pháp đã được triển khai thực hiện mà chủ thể kiến nghị cho rằng các giải pháp, hình thức quản lý đó không hiệu quả, không phù hợp, có thể hoặc đã gây hậu quả xấu đến hoạt động bình thường của nhà nước và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tập thể. Chủ thể kiến nghị có thể là cá nhân hoặc tổ chức.

Tố cáo là việc công dân theo thủ tục pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Luật Tố cáo 2011 Điều 2 khoản 1). Chủ thể tố cáo là cá nhân.

Trên thông tin lá đơn của công dân X có nêu đã phát hiện 1 công dân khác đã lợi dụng vị trí của mình để thu, giữ lại không công khai số tiền là 68 triệu 800 ngàn đồng (thu của 43 người) và thu, sử dụng sai mục đích số tiền 107 triệu 300 ngàn đồng (thu của 43 người). Trường hợp này, người đó đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện 1 hành vi vi phạm pháp luật, công dân X phát hiện và có quyền tố cáo hành vi trên bằng cách báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cá nhân đó thông qua đơn tố cáo hoặc đến tố cáo trực tiếp tại cơ quan có thẩm quyền.

Quy trình xử lý của UBND xã:

1. Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo:

Thẩm quyền: chủ tịch UBND xã; sau đó chuyển đơn đến bộ phận xử lý đơn thư để xử lý.

Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết là 90 ngày, kể từ ngày thụ lý giải quyết tố cáo.

Trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể gia hạn giải quyết một lần nhưng không quá 30 ngày; đối với vụ việc phức tạp thì không quá 60 ngày.

2. Xác minh nội dung tố cáo;

Người giải quyết tố cáo tiến hành xác minh hoặc giao cho cơ quan thanh tra nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm xác minh nội dung tố cáo.

Người xác minh nội dung tố cáo phải tiến hành các biện pháp cần thiết để thu thập các thông tin, tài liệu, làm rõ nội dung tố cáo. Thông tin, tài liệu thu thập phải được ghi chép thành văn bản, khi cần thiết thì lập thành biên bản, được lưu giữ trong hồ sơ vụ việc tố cáo.

3. Kết luận nội dung tố cáo;

Căn cứ vào nội dung tố cáo, văn bản giải trình của người bị tố cáo, kết quả xác minh nội dung tố cáo, tài liệu, chứng cứ có liên quan, người giải quyết tố cáo phải kết luận bằng văn bản về nội dung tố cáo.

4. Xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo;

Sau khi có kết luận về nội dung tố cáo, người giải quyết tố cáo phải căn cứ kết luận nội dung tố cáo để xử lý như sau:

a) Đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ thuộc thẩm quyền xử lý của mình thì người giải quyết tố cáo ban hành quyết định thu hồi tiền, tài sản; thực hiện các thủ tục để xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính và áp dụng các biện pháp khác theo quy định của pháp luật để xử lý vi phạm, buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra.

b) Đối với hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm các quy định về nhiệm vụ, công vụ thuộc thẩm quyền xử lý của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc quyền quản lý của mình thì người giải quyết tố cáo chỉ đạo cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đó xử lý vi phạm và buộc khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm pháp luật gây ra.

c) Đối với hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm thì có văn bản chuyển hồ sơ về hành vi vi phạm đó cho Cơ quan điều tra. Hồ sơ bàn giao cho Cơ quan điều tra là hồ sơ được lập trong quá trình giải quyết tố cáo và phải được sao lại để lưu trữ.

d) Đối với hành vi vi phạm pháp luật không thuộc những trường hợp trên thì có văn bản kiến nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý vi phạm, đồng thời gửi kèm hồ sơ về hành vi vi phạm đó.

đ) Trong trường hợp người tố cáo cố ý tố cáo sai sự thật thì người giải quyết tố cáo phải áp dụng biện pháp theo thẩm quyền để xử lý người tố cáo hoặc chỉ đạo, kiến nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Thông tin về người cố ý tố cáo sai sự thật, tài liệu, bút tích liên quan đến nội dung cố ý tố cáo sai sự thật được sử dụng để phục vụ cho việc xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật.

5. Công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ký kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm thực hiện việc công khai kết luận nội dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo.

>> Tham khảo căn cứ pháp lý:

Thông tư 07/2014/TT-TTCP Quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh

Thông tư 06/2013/TT-TTCP Quy định quy trình giải quyết tố cáo

Nghị định 76/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tố cáo

3. Có thể làm đơn tố cáo với tội vu khống hay không?

Xin chào luật sự, Em đang làm nhân sự cho 1 công ty Hàn Quốc. Công ty em là công ty dịch vụ nên thường xuyên phải tuyển dụng. Công ty em làm việc tạm gọi là công ty A. Công ty A có vốn đầu tư của giám đốc 1 công ty khác, tạm gọi là công ty B. Nghĩa là giám đốc công ty em làm không phải là chủ công ty.
Chủ thực sự là giám đốc công ty B. Cách đây hơn 1 tuần, lái xe của giám đốc công ty B liên hệ với em. Muốn em đưa người của anh ta vào công ty, và trả em 500.000 VNĐ/hồ sơ. Anh ta nói có người em nào đó của anh ta sẽ liên lạc với em. Em không thích, không muốn làm việc anh ta nói, tuy nhiên anh ta thường xuyên có đưa giám đốc công ty B đến công ty em, anh em cũng thường xuyên đi ăn, gặp gỡ. Và dù sao anh ta cũng là người thân cận của chủ công ty, nên em cũng có phần nể nang. Em không đồng ý, nhưng cũng không nói gì với anh ta. Tuy nhiên người em anh ta gọi, nhắn tin, liên lạc với am, em đều không trả lời. Và kể cả anh ta, từ lúc đó, em cũng không trả lời gì nữa. Vì em không muốn làm việc đó. Nhưng anh ta vẫn gửi 3 bộ hồ sơ đến công ty. Em vẫn nhận phỏng vấn bình thường. Nhưng trong đó có 1 bộ không đủ tiêu chuẩn của công ty, nên em bỏ qua. 2 bộ còn lại em có để trong tập hồ sơ đạt tiêu chuẩn, để khi công ty cần người, bạn chịu trách nhiệm gọi hồ sơ đi làm sẽ gọi.
Vì gọi hồ sơ đi làm là gọi ngẫu nhiên, nên hồ sơ của anh ta bị lưu lại, mãi không được gọi. Cho đến 1 tuần sau, gọi đến thì 1 trong 2 hồ sơ đi làm luôn, 1 hồ sơ gọi nhiều lần nhưng không nghe máy, công ty không gọi nữa. Vào 1 buổi anh ta đưa giám đốc B đến công ty em họp, anh ta có hỏi em về 3 hồ sơ. Em cũng đã trả lời, 1 hồ sơ đã đi làm, 1 hồ sơ gọi nhiều lần không nghe máy, 1 hồ sơ không đủ tiêu chuẩn của công ty nên không thể gọi. Anh ta hỏi em sao lại làm khó anh ta, sau đó tự nhiên đập bàn nói em với nội dung, bây giờ em muốn bao nhiêu tiền, 500 không được mà phải 2 triệu à?, tuy nhiên lời lẽ lại rất mất lịch sự. Anh ta nói thì anh ta biết em đã nhận tiền nhiều lần của 1 người nào đó. Anh ta sẽ khiến em phải nghỉ việc. Và tất cả những điều đó mọi người trong công ty đều chứng kiến. Hiện tại em chưa gặp lại anh ta. Tuy nhiên những lời lẽ đó làm ảnh hưởng đến danh dự, công việc của em. Em xin hỏi luật sư, với trường hợp này, em có thể làm đơn tố giác anh ta với tội vu khống hay không? Và thủ tục gồm những gì ?
Em xin chân thành cảm ơn!

Có thể làm đơn tố cáo với tội vu khống hay không?

Luật sư tư vấn luật hình sự về tố cáo hành vi vu khống, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 109 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 thì tội vu khống được quy định như sau:

"Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

C) Đối với nhiều người;

D) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

Đ) Đối với người thi hành công vụ;

E) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Nếu người nào mà có hành vi đưa ra nhưng thông tin không đúng sự thật và có nội dung xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự, uy tín người khác như đưa tin người khác có hành vi thiếu đạo đức, có hành vi vi phạm pháp luật mặc dù người đó không có hành vi này hoặc có hành vi loan truyền nhưng thông tin không đúng sự thật mà người khác đã đưa ra đến người tiếp theo bằng những hình thức khác nhau. Vây, nếu thực sự bạn không nhận tiền của ai mà người đó đã nói bạn là đã nhận tiền nhiều lần của một người nào đó và sẽ khiến bạn phải nghỉ việc trước mặt bao nhiêu người ở công ty thì hành vi bằng lời nói đó được coi là hành vi bịa đặt không đúng sự thật nhằm xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự, uy tín của bạn và người đó có thể bị khởi tố về tội vu khống người khác. Bạn có thể mang chứng cứ đến cơ quan nhà nước để tố giác về hành vi phạm tội này.

Bạn có thể đến cơ quan nhà nước theo quy định tại Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 để tố giác về tội phạm:

"Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Sau khi cơ quan điều tra điều tra bằng cách dựa vào đơn tố giác xem xét chứng cứ, vật chứng phát hiện thất dấu hiệu tội phạm thì ra quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

4. Tư vấn viết đơn tố cáo hành vi bạo lực gia đình, đe dọa giết người ?

Kính gửi công ty Luật Minh Khuê ! Tôi tên Y, hiện đang cư trú tại thành phố A. Tôi muốn hỏi vài điều sau đây: Tôi muốn viết đơn tố cáo về hành vi bạo lực gia đình, đe dọa giết người, xúc phạm nhân phẩm người khác và sử dụng tài khoản cá nhân của người khác với mục đích xấu.

Các bằng chứng tôi có được:

1. Hangout trên gmail về hành vi đe dọa giết tôi và giết cả nhà tôi, và hành vi sỉ vả nhân phẩm vô căn cứ của người đó.

2.Người đó đã dùng dao gí vào cổ, đe dọa tôi, bắt tôi gọi điện thoại cho vài người để nói điều hắn muốn

3.Người đó đã đánh tôi, xô đẩy tôi

4. Sử dụng tài khoản cá nhân của tôi gửi mail và nói chuyện không hay với những người bạn của tôi, và phá hạnh phúc người khác để người khác nhắn tin sỉ vả tôi

5. Đoạn ghi âm ghi lại hành vi muốn thuê giang hồ giết hai em của tôi.

6. Ngày hiện tại tôi vẫn bị đe dọa.

Vậy với những hành vi trên có thể viết đơn tố cáo không? Và theo đánh giá quý công ty thì có truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Mong sự phản hồi sớm từ quý công ty. Xin chân thành cảm ơn !

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo 2011, tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Như vậy, qua những bằng chứng mà bạn vừa cung cấp, bạn hoàn toàn có thể viết đơn tố cáo người có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 9 và khoản 2 Điều 19 Luật tố cáo 2011, bạn cần lưu ý về hình thức đơn tố cáo và những nghĩa vụ sau để tránh trường hợp đơn tố cáo không được thụ lý.

Khoản 2 Điều 9 Luật tố cáo năm 2011 quy định:

"Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo...

2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình;

d) Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra."

Khoản 2 Điều 19 Luật tố cáo 2011 quy định:

"Điều 19. Hình thức tố cáo...

2. Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo. Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo."

Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 và Điều 28 Luật tố cáo 2011, nếu trong quá trình xác minh phát hiện thấy có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan, tổ chức nhận được tố cáo có trách nhiệm chuyển hồ sơ, tài liệu và những thông tin về vụ việc tố cáo đó cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

5. Rút lại đơn tố cáo thực hiện như thế nào ?

Thưa luật sư. Em có làm đơn khởi tố một người về hành vi đe dọa rồi cưỡng dâm. Nhưng qua ngày hôm sau em có làm đơn rút lại đơn khởi tố đó. Bên công an (1 cá nhân) có mời bên kia lên làm việc và làm tiền người đó. Trong khi em đã làm đơn rút nhưng bên công an lại nói bên kia là chưa và đã moi tiền được 10 triệu đồng rồi. Hôm nay hẹn sẽ lấy 10 triệu đồng nữa. Bên công an vẫn chưa biết là em biết chuyện ăn tiền đó.
Và em không muốn người công an đó lấy chặn tiền thêm nữa. Em định sẽ đi cùng bên bị cáo đến chỗ hẹn giao 10 triệu còn lại. Bên công ty tư vấn giúp em là liệu làm thế có ảnh hưởng gì tới 2 bên không và phải làm thế nào để người công an đó không vòi tiền thêm được nữa ?
Em rất cần tư vấn gấp. Công ty hồi âm lại sớm cho em với ạ. Em xin chân thành cảm ơn!
Luật sư tư vấn:

Theo điều 105 Bộ Luật Hình Sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

"Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức."

Như vậy, nếu vụ án của bạn thuộc đối tượng được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì khi bạn rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, cơ quan điều tra sẽ phải đình chỉ điều tra, còn nếu không thuộc các trường hợp nêu tại khoản 1 Điều 105 Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 thì cơ quan điều tra vẫn tiến hành giải quyết.

Việc người công an đó trong quá trình xem xét việc rút đơn yêu cầu khởi tố của bạn và mời người bị khởi tố lên để moi tiền là hành vi trái pháp luật. Để không bị người công an đó vòi tiền nữa thì bạn có thể tố cáo hành vi của người này với Thủ trưởng cơ quan công an hoặc Viện kiểm sát hoặc Tòa án cùng cấp. Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự quy định:

"Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản."

Người công an đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo một trong các tội sau quy định tại Bộ luật hình sự:

"Điều 279. Tội nhận hối lộ

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn, trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kỳ hình thức nào có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Gây hậu quả nghiêm trọng;

b) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

c) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Lạm dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Biết rõ của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

đ) Đòi hối lộ, sách nhiễu hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Cấu thành tội nhận hối lộ:

- Khách thể của tội phạm hối lộ là hoạt động đúng đắn, bình thường, tính chuẩn mực trong công tác của cơ quan, tổ chức do nhà nước quy định.

Đối tượng của tội nhận hối lộ phải là tiền của, tài sản hoặc những giấy tờ có giá trị tài sản. Trường hợp người có chức vụ không nhận tiền của, tài sản mà nhận tình cảm của người khác giới thì không coi là nhận hối lộ.

- Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhận tiền của hoặc lợi ích vật chất khác dưới vất kỳ hình thức nào để làm hoặc không làm một việc theo yêu cầu hoặc vì lợi ích của người đưa hối lộ.

Hành vi nhận hối lộ được thực hiện trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác nhau. Trong trường hợp sẽ nhận là trường hợp người có chức vụ chưa nhận tiền của hối lộ nhưng có căn cứ cho rằng đã có sự thỏa thuận về việc nhận hối lộ sau khi thực hiện xong một việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Trường hợp được coi là đã nhận tiền của hối lộ là trường hợp người có chức vụ đã nhận tiền của mặc dù người có chức vụ chỉ mới nhận một phần tiền của ấy.

- Mặt chủ quan của tội nhận hối lộ được thể hiện do hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội thấy trước họ là người có chức vụ, việc nhận tiền của là do lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nhận tiền của hối lộ là trái pháp luật, trái với quy định của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, người phạm tội đã mong muốn nhận được tiền của hối lộ.

- Chủ thể của tội nhận hối lộ phải là người có chức vụ, quyền hạn. Chức vụ, quyền hạn ấy liên quan trực tiếp đến việc giải quyết công việc của người đưa hối lộ. Trường hợp người có chức vụ nhưng chức vụ, quyền hạn của họ không liên quan đến việc giải quyết công việc theo yêu cầu của người đưa hối lộ thì không coi là tội nhận hối lộ mà phạm vào tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi.

"Điều 280. Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

1. Người nào lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ một năm đến sáu năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu năm đến mười ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười ba năm đến hai mươi năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng."

Cấu thành tội phạm

- Chủ thể: chủ thể đặc biệt, là người có chức vụ, quyền hạn

- Lỗi: cố ý trực tiếp

- Hành vi khách quan: hành vi vượt ra khỏi phạm vi quyền hạn của mình nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi vượt quyền hạn này chỉ thực hiện trên cơ sở chức vụ, quyền hạn đã có của người phạm tội. Người phạm tội đã sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình như là phương tiện để thực hiện tội phạm. Để chiếm đoạt tài sản của ngườ khác người phạm tội có thể thực hiện tội phạm bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Trong thực tế các thủ đoạn này là lạm dụng chức vụ, quyền hạn để uy hiếp tinh thần hoặc lừa dối hoặc lạm dụng tín nhiệm.

+ Lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần người khác để chiếm đoạt tài sản của họ là trường hợp người phạm tội đã sử dụng chức vụ, quyền hạn làm phương tiện để cưỡng bức người khác, chiếm đoạt tài sản của họ. Người bị hại do lo sợ rằng người phạm tội sẽ gây thiệt hại cho mình mà để cho người có chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản.

+ Lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa dối người khác chiếm đoạt tài sản của họ là trường hợp người phạm tội thể hiện những nội dung không đúng sự thật với người khác nhưng vì tin vào người có chức vụ, quyền hạn mà họ không nhận thức ra được đó là gian dối và để cho người phạm tội chiếm đoạt tài sản.

+ Nếu người phạm tội không gian dối nhưng người bị hại vẫn tin mà giao cho tài sản và người có chức vụ, quyền hạn lạm dụng sự tín nhiệm này mà chiếm đoạt tài sản của họ thì đây là thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm.

Hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản của công dân bị coi là tội phạm khi:

+ Giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2 triệu đồng trở lên

+ Giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng

+ Giá trị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị xử lí kỉ luật về hành vi này mà còn vi pham

+ Giá trị chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng nhưng đã bị kết án về một trong các tội quy định từ Điều 278 đến Điều 284 Bộ luật hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

6. Bị hiếp dâm nhưng chưa thành thì có quyền viết đơn tố cáo được không ? có xử lý hình sự được không ?

Chào luật sư, Gia đình tôi có một sự cố cụ thể như sau: có một ông này ở gần nhà tôi sang nhà tôi gọi mẹ tôi về bán hàng mẹ tôi gặp ông này có mời vào trog nhà ngồi uống nước để chờ mẹ tôi lấy hàng cho ông đấy.

Trong thời gian chờ mẹ tôi lấy hàng ông này đã đi vào phòng ngủ của nhà tôi ngồi trong đó sau khoảng 5 phút không thấy ra nên mẹ tôi vào kiểm tra thì bất ngờ bị ông này cầm tay lôi vào trong phòng ngủ và chốt của lại không cho mẹ tôi ra, do mẹ tôi sợ ông này làm liều nên không giám la hét gì mà chỉ bảo ông này bỏ ra để mẹ tôi ra ngoài nhưng ông ấy vẫn không bỏ ra. Đang trong lúc mẹ tôi đôi co với ông ấy thì bố tôi về bất chợt và gọi cửa mẹ tôi ra mở cửa thì bố tôi đi vào và thấy ông đó nên đã nắm cổ áo hỏi ông ấy làm gì trong phòng ngủ nhà tôi ông ấy không trả lời gì mà quay lại đánh bố tôi và sau đó bố tôi dùng đồ đạc đánh lại ông ấy khiến cho ông ấy bị rách mặt một lúc sau ông ta chạy được ra ngoài thì cầm gạch ném bố tôi nhưng không trúng nên ông ta lấy xe máy về nhà gọi thêm anh em vào đòi đánh bố tôi và chưa đánh được bố tôi thì đã bị công an xã mời cả hai bên về uỷ ban xã để làm việc.

Vậy luật sư cho tôi hỏi trong trường hợp này mẹ tôi bị ông kia hiếp dâm nhưng chưa thành có thể viết đơn tố cáo ông ta về hành vi hiếp dâm được không và bố tôi đánh ông ta trong trường hợp này thì có bị xử lý hình sự không ?

Kính mong luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn luật sư.

Bị hiếp dâm nhưng chưa thành thì có quyền viết đơn tố cáo được không ? có xử lý hình sự được không ?

Luật sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê, chúng tôi giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

- Về hành vi hiếp dâm của người đàn ông kia:

Căn cứ vào Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có quy định phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội. Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.

Điều 141 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội hiếp dâm như sau:

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc bằng thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội 02 lần trở lên;

đ) Đối với 02 người trở lên;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

d) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trong trường hợp này, người đàn ông kia có hành vi dùng vũ lực đó là lôi tay, chốt cửa và đôi cô với mẹ bạn nhằm thực hiện mục đích của mình, tuy nhiên người đàn ông kia đã không đạt được mục đích do bố bạn kịp thời về và ngăn chặn hành vi đó. Có thể thấy, trong trường hợp này có dấu hiệu của tội hiếp dâm ở giai đoạn phạm tội chưa đạt căn cứ Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do vậy, mẹ bạn có thể làm đơn tố giác tội phạm đối với hành vi của người đàn ông kia. Đơn tố giác có thể được gửi đến cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc cơ quan, tổ chức khác. Do trường hợp của mẹ bạn có dấu hiệu tội phạm của tội hiếp dâm bởi vậy cần trải qua quá trình xác minh của Cơ quan điều tra.

- Về hành vi của bố bạn đánh người đàn ông kia:

Theo như thông tin bạn cung cấp, bố bạn có thể bị khởi tố về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 135 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo đó, nếu người đàn ông kia bị tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% thì bố bạn sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê