Vậy xin hỏi:

1/ sự khác nhau về trách nhiệm pháp lý cùa A và B?
2/ Thời hiệu xử phạt, thời hạn ra quyết định xử phạt đối với hành vi trên và tính từ khi nào?

Người gửi: Thương

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>>  Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi: 1900.1940

 

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về công ty chúng tôi! Vấn đề của bạn tôi xin được trả lời như sau:

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định:

Điều 202Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ 

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

Theo đó thì hành vi của A và B chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự, họ chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm pháp luật giao thông đường bộ và bồi thường cho chị C theo quy định của pháp luật dân sự.

Nghị định 171/2013/NĐ-CP quy định:

Điều 5. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe ô tô và các loại xe tương tự xe ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

7. Phạt tiền từ 7.000.000 đồng đến 8.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h; điều khiển xe đi ngược chiều trên đường cao tốc, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

8. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

Điều 21. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới

1. Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự xe mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô.

Như vậy tùy thuộc vào nồng độ công mà A bị xử phạt hành chính ở các mức độ khác nhau đối với việc say rượu mà vẫn lái xe. Còn B mới 14 tuổi và không uống rượu khi điều khiển xe nên chỉ bị phạt cảnh cáo.

Ngoài ra cả hai người đều bị phạt vi phạm đối với hành vi đua xe trái phép

Điều 34. Xử phạt người đua xe trái phép, cổ vũ đua xe trái phép

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định:

Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại  

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Theo đó A có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại đã gây ra cho chị C bao gồm giá trị chiếc xa đạp bị hỏng và tiền điều trị bệnh nếu hai bên không có thỏa thận khác. Theo luật cử lí vi phạm hành chính thì cơ quan có thẩm quyết ra quyết định xử phạt  sau thời hạn 7 ngày kể từ lập biên bản vi phạm hành chính.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê