1. Thủ tục tố giác tội phạm ?

Chào Luật Sư, hôm nay em gửi mail này rất mong được sự hỗ trợ của quý Luật Sư trong công ty em có chị chủ quản bị mất tài sản là 1 chiếc nhẫn 5 chỉ, theo như lời chị nói là, tối ngày 21/7 chị và con gái có mở hợp đựng vàng ra ( 1 cái hợp thuốc tây), trong đó là 3 chiếc nhẫn 5 chỉ và 1 chiếc nhẫn của con chị.

Sáng hôm sau chị mang theo đến công ty và bỏ vào tủ cá nhân, trong phòng làm viêc của em, và khoá lại. Đến 14h tan ca thì chị phát hiện tủ cá nhân chị bị hư, kiểm tra thì phát hiện mất 1 chiếc nhẫn 5 chỉ chị nhờ nhân sự kiểm tra camera thì từ sáng đến lúc chị tan ca chỉ có em là đáng nghi nhất, vì buổi trưa em ăn cơm tại phòng làm việc, và ăn cơm xong em đi ra khỏi công ty để qua ATM đối diện công ty rút tiền (trong quá trình đi ra khỏi công ty anh bảo vệ có nhìn thấy nhưng không có ai nhìn thấy toàn bộ là em không có gặp ai và có hành động khả nghi, em rút tiền thì có tin nhắn diện thoại của ngân hàng gửi xác nhận được thời gian và địa điểm ), lúc ăn cơm chỉ có 1 minh em o trong phòng, sau khi em ra ngoài thì những người còn lại lần lượt vào phòng nghĩ trưa em chưa xem qua camera ghi hình nên chỉ nghe chị và sếp em nói là ngoài những người trong phòng còn lại không có ai vào phòng, nên em thắc mắc không biết số tài sản đó khi mang đến công ty mới mất hay đã mất ở nhà, và số tài sản đó chỉ có con gái chị, chồng chị và ngưòi trả nợ cho chị mới biết.

Bây giờ trong công ty ai cũng nghĩ em là thủ phạm, nếu không tìm được thủ phạm thì em sẽ bị nghi oan cả đời, thậm chí sẽ bị ép. Việc em muốn hỏi, nếu chị không thông báo chính quyền làm rõ vấn đề mà ép tội em, hoặc báo chính quyền nhưng vẫn không tìm ra thủ phạm thì em phải báo lên cơ quan nào đễ tự bảo vệ mình ?

Cảm ơn!

Thủ tục tố giác tội phạm ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

- Khi phát hiện có hành vi tội phạm thì mọi công dân đều có quyền tố giác tội phạm. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (văn bản mới: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) quy định về tố giác và tin báo về tội phạm như sau:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.
Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.
Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Vậy bạn có thể đến cơ quan công an, UBND xã khai báo về vụ việc trên để cơ quan điều tra sẽ điều tra vụ trộm cắp trên. Sau khi điều tra nếu bạn thực sự không lấy trộm thì bạn sẽ được minh oan. Việc khai báo với cơ quan có thẩm quyền vừa sớm điều tra ra thủ phạm thực sự vừa giúp bạn được minh oan.

- Khi có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định khởi tố vụ án theo quy định tại Điều 87 Bộ luật tố tụng năm 2003:

"Điều 87. Quyết định khởi tố vụ án hình sự.
1- Khi xác định có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm ra quyết định khởi tố vụ án trong những trường hợp quy định tại Điều 93 Bộ luật này.
Toà án ra quyết định khởi tố vụ án nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra.
2- Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ thời gian, căn cứ khởi tố và điều khoản của Bộ luật hình sự được áp dụng.
3- Trong thời hạn 24 giờ, quyết định khởi tố của Viện kiểm sát được gửi đến cơ quan điều tra để tiến hành điều tra; quyết định khởi tố của cơ quan điều tra, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, cơ quan Kiểm lâm được gửi đến Viện kiểm sát để kiểm sát việc khởi tố; quyết định khởi tố của Toà án được gửi đến Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc điều tra."

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tố giác tội phạm trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Có thể tố giác tội lừa đảo khi xin việc được không ?

Thưa Luật sư, Em có một vấn đề cần luật sư tư vấn giúp, hiện tại thì em đang rất lo lắng và không biết phải làm thế nào. Cách đây vài tháng em có nhờ người "chạy việc" (ngày 29/2/2016) vào làm trong sân bay, theo thỏa thuận thì trong vong 01 tháng là sẽ có việc và em sẽ đi làm, nhưng cuối cùng thì đến nay (05/09/2016) vẫn chưa có việc.
Em nhận thấy mình đã bị lừa xin việc và với số tiền lớn (460 triệu). Khi giao tiền thì có viết giấy ghi nhận nhưng em đã vô tình làm ướt tờ giấy đó nhưng cũng đã lưu giữ được bằng cách scans lại trước đó. Và ngày giao tiền thì em đến giao tại nhà của người đứng ra nhận xin việc (có mặt tất cả 6 người, ngoài em và người nhận tiền thì có 4 người khác, trong đó có 3 người thì là bạn thân quen với em), hôm đó em cũng có quay lại được video của việc viết giấy, thỏa thuận và nhận tiền. Em đã nói chuyện nhiều lần và muốn lấy lại tiền nhưng người ta cứ khất lần và dây dưa không chịu trả. Em muốn hỏi luật sư rằng với những chứng cớ hiện tại của em thì có thể làm đơn tố giác tội lừa đảo để em có thể lấy lại số tiền đã đưa được hay không ?
Rất mong luật sư tư vấn giúp em.
(Người nhận chạy việc cho e không phải là công chức, công việc chính chỉ là làm môi giới xin việc, em tin tưởng vì thực tế cũng đã xin được cho 02 trường hợp vào làm trong sân bay nên em mới tin tưởng).

Trả lời:

Về hành vi "chạy việc" này có phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo đó, dấu hiệu cơ bản của tội này chính là việc người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối nhằm để chiếm đoạt tại sản của người khác. Dùng thủ đoạn ở đây có nghĩa là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản. Đối với trường hợp của bạn, người nhận "chạy việc" cho bạn nếu người đó không có khả năng lo việc cho bạn nhưng vẫn nhận chạy việc và nhận tiền của bạn nhằm chiếm đoạt tiền của bạn thì hành vi này sẽ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ngược lại, nếu họ có khả năng lo được, việc nhận tiền là hoàn toàn dựa trên khả năng của họ và họ hoàn toàn không có ý định lừa dối bạn để chiếm đoạt số tiền kia thì hành vi này không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do đó, để xác định được người này có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bạn hay không thì cần căn cứ trực tiếp vào hành vi của người đó để xác định.

Về cách giải quyết trong trường hợp này:

Như đã trình bày ở trên, nếu trường hợp người nhận chạy việc cho bạn không có khả năng để xin việc mà chỉ là nói dối để nhằm chiếm đoạt tài sản của bạn thì bạn có thể tố cáo người này với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp thứ hai: Khi người này không có dấu hiệu của hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của bạn. Đối với trường hợp này, do bạn và người này có viết giấy ghi nhận tiền nhưng nội dung của nó là xin việc một cách dễ dàng hơn bằng cách thức không chân chính nên đây sẽ là giao dịch vô hiệu theo quy định tại Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015):

Điều 128. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của pháp luật là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

Bên cạnh đó, Điều 137 BLDS 2005 cũng quy định về hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu như sau:

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Theo đó, để lấy lại được số tiền trong trường hợp này, bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền tuyên bố giao dịch dân sự này vô hiệu. Sau khi giao dịch dân sự bị tuyên bố vô hiệu thì các bên sẽ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận tức người nhận xin việc kia sẽ phải trả lại cho bạn số tiền đã nhận.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Tố giác tội phạm khi bị mất trộm tài sản ?

Kính chào luật sư: Cho em hỏi thủ tục báo mất trộm như thế nào. Cụ thể là mất đàn organ bk5 giá trị hiện thời là 15 triệu đồng. Nếu công an phường có đến giải quyết mà làm loa qua thì tiếp theo mình phải làm gì?
Xin cảm ơn luật sư!

Luật sư tư vấn:

Bạn có thể trực tiếp đến cơ quan công an nơi gần nhất để tố giác, bạn có thể tố giác bằng biệng hoặc bằng văn bản. Điều 84 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định rõ nơi tố giác và hình thức tố giác.

Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.
Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.
Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản.

Thủ tục giải quyết tố giác được quy định như sau:

Điều 86. Nhiệm vụ giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm.
Trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi nhận được tố giác hoặc tin báo, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.
Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

Vậy, nếu cơ quan công an không thực hiện đúng thủ tục tố tụng hình sự, bạn có thể gửi đơn khiếu nại đến thủ trường của đơn vị đó.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Khái niệm đồng phạm, che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm ?

4. Phát hiện ghi lô ghi đề thì tố giác đến cơ quan nào?

Luật sư ơi cho em hỏi ở địa phương em có một nhà chuyên tổ chức ghi ôm lô đề làm ảnh hưởng đến nhiều cuộc sống của nhiều gia đình tán gia bại sản trong đó có bố mẹ e thật sự rất mong cơ quan chức năng có biện pháp xử lý nghiêm minh em mong luật sư chỉ giúp ? Em viết đơn như thế nao với ạ ? Em cám ơn luật sư nhiều

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Điều 248 , Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Như vậy, phát hiện hành vi đánh bạc nêu trên bạn làm đơn tố cáo bạn gửi lên cơ quan công an cấp xã phường nơi xảy ra hành vi vi phạm.

Bạn có thể gửi đơn theo thức thức đơn nạp danh

>> Bài viết tham khảo thêm: Mẫu đơn tố cáoMẫu đơn tố giác tội phạm

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Phát hiện ghi lô ghi đề thì tố giác đến cơ quan nào ? Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê