Tôi đã liên lạc với những người khác trong group và biết được họ cũng bị lừa đảo bởi những tài khoản facebook khác nhau nhưng giao dịch qua cùng một số tài khoản ngân hàng và một số điện thoại giống tôi. Số tiền vé máy bay tôi bị lừa đảo là 3. 100. 000 vnđhiện nay, tôi không thể tìm lại tin nhắn qua facebook với ctk facebook lừa đảo và bài post rao bán vé máy bay mà chỉ có số tài khoản và tên chủ tài khoản giao dịch cùng với các giấy tờ chứng minh giao dịch qua ngân hàng và giấy xác nhận hành trình chuyến bay. Nay tôi muốn tố các hành vi lừa đảo trên, tôi thắc mắc liệu có thể tố cáo chủ tài khoản facebook có hành vi lừa đảo trên không.

Nếu được, thì tôi sẽ tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 174 blhs 2015 hay hành vi sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 290 blhs 2015. Tôi xin cảm ơn.

Người gửi : Nguyễn Bảo Anh

 

Luật sư trả lời:

1. Căn cứ pháp lý

- Bộ luật hình sự năm 2015

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

2. Nội dung tư vấn

Cảm ơn chị đã tin tưởng lựa chọn sự tư vấn của Công ty Luật Minh Khuê! Từ những thông tin chị đã cung cấp Luật sư thấy rằng chị cũng có sự tìm hiểu và am hiểu về pháp luật ở một mức nhất định. Hiện chị có hai thắc mắc là sẽ tố cáo hành vi của kẻ lừa tiền ở cơ quan nào và liệu với những tình tiết như trên thì kẻ lừa đảo sẽ bị xử lý theo căn cứ pháp lý nào.

Thứ nhất: Căn cứ vào Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt  tài sản có giá từ 2,000,000 đồng đến dưới 50,000,000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50,000,000 đến dưới 200,000,000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoan1 điều này.

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200,000,000 đồng đến dưới 500,000,000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a,b,c và d khoản 1 điều này.

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Từ những căn cứ nêu trên thì người lừa tiền của chị hoàn toàn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015. Còn việc chị đang phân vân căn cứ pháp lý thì Luật sư xin tư vấn như sau: Đây thực chất là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản và dùng mạng xã hội facebook để tiếp cận nên facebook ở đây chỉ là công cụ thực hiện hành vi phạm tội chứ đây hoàn toàn không phải là hành vi dùng mạng máy tính nhằm chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 Bộ luật hình sự như chị đã nêu.

Thứ hai: Căn cứ Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định như sau:

Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm.

3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;

b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;

c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

Như vậy từ căn cứ pháp lý nêu trên thì chị là người bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên hoàn toàn có quyền tố giác, báo tin tại cơ quan điều tra công an cấp huyện cũng như tại viện kiểm sát nhân dân cấp huyện nơi chị có hộ khẩu thường trú.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội lừa đảo trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê