Tôi bây giờ đã mang thai gần 5 tháng nhưng anh ta không hề quan tâm và cũng không có bất cứ trách nhiệm nào cũng không hề gọi điện hỏi thăm.Bây giờ tôi muốn khởi tố anh ta tội lừa đảo và tội làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm của tôi và gia đình tôi có được không? Tôi bây giờ đang phải ôm cái thai và phải xa nhà làm ăn. Mà anh ta vẫn nhởn nhơ đi lừa đảo các cô gái khác và còn tuyên bố với tôi là sẽ lấy vợ và còn nói tôi nên biết điều. Tôi rất bức xúc xin luật sư tư vấn cho tôi làm thế nào để bắt anh ta chịu mọi hình phạt.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: K.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Tố cáo tội lừa đảo và làm ảnh hưởng danh dự, nhân phẩm người khác ? 

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số:  1900.6162

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho Luật Minh Khuê. Đối với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin hỗ trợ trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2005 

Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 

2. Nội dung tư vấn:

Thứ nhất, Bạn muốn kiện anh ta tội lừa đảo và lừa đảo ở đây chỉ có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

Tuy nhiên theo thông tin bạn cung cấp thì anh ta chưa có dấu hiệu gian dối để chiếm đoạt tài sản. Anh ta chỉ có dấu hiệu gian dối tình cảm của bạn, và hành vi gian dối tình cảm không cấu thành tội theo quy định của Pháp luật Việt Nam.

Thứ hai, bạn muốn kiện anh ta tội làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm của bạn và gia đình bạn. Bộ luật Hình sự quy định tội làm nhục người khác như sau:

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Do đó, hành vi quy định trong cấu thành tội phạm này là hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm (như dùng lời nói chửi bới, dùng chất bẩn ném vào nạn nhân giữa đông người...). Hành vi của người đàn ông kia là lừa dối tình cảm của bạn, không có dấu hiệu xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Việc bạn cho rằng bạn bị xúc phạm danh dự, nhân phẩm là cảm nhận của bạn, do đó, bạn không thể tố cáo anh ta về tội phạm này được.

Bạn chỉ có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác định cha cho con của mình để nhận cấp dưỡng.

Theo điều 101, 102 và 110 Luật hôn nhân và gia đình 2014

Điều 101. Thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con

1. Cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp không có tranh chấp.

2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp có tranh chấp hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết và trường hợp quy định tại Điều 92 của Luật này.

Quyết định của Tòa án về xác định cha, mẹ, con phải được gửi cho cơ quan đăng ký hộ tịch để ghi chú theo quy định của pháp luật về hộ tịch; các bên trong quan hệ xác định cha, mẹ, con; cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Điều 102. Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con

1. Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 101 của Luật này.

2. Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này.

Điều 110. Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con

Cha, mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con hoặc sống chung với con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng con.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi.  Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn:  1900.6162 .

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật MInh Khuê