Vậy tôi xin hỏi:

1. Tôi phải làm gì để tố giác hành vi cố ý gây thương tích đó?

2. Với hành vi như vây thì bị xử phạt như thế nào là đúng theo quy định của pháp luật?
Tôi xin trân thành cám ơn!

Người gửi: Lệ

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luật của công ty luật Minh Khuê.

Tố giác hành vi cố ý gây thương tích như thế nào?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến cho công ty chúng tôi, thắc mắc của bạn sẽ được giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Hình sự số 15/1999/QH10;

Luật Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự số 37/2009/QH12;

Luật Tố cáo số 03/2011/QH13;

Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình;

Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

2. Nội dung tư vấn:

Theo như bạn trình bày, bố bạn bị con trai của gia đình kia đánh chấn thương nhẹ. Hành vi trên nếu nghiêm trọng thì có thể cấu thành tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự hoặc nếu ít nghiêm trọng là hành vi vi phạm hành chính nếu mức thương tật của bố bạn dưới 11% và hành vi của người thanh niên đó không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác 

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

 4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

1/ Nếu như hành vi của người đánh bố bạn đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì bạn có thể tố giác tội phạm với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, còn nếu hành vi đó chỉ là hành vi vi phạm hành chính thì bạn có thể tố cáo hành vi trên.

Về tố cáo, khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo quy định như sau: Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.”

Nghĩa vụ của người tố cáo được quy định tại khoản 2 Điều 9 như sau:

Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

 …

2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình;

d) Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra.”

Như vậy, bạn cần cung cấp các thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo về hành vi gây thương tích của người thanh niên trên.

Về tố giác, công dân có thể tố giác tội phạm với các cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự như sau:

Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.”

Bạn có thể gửi đơn tố giác hoặc tố giác trực tiếp cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo đến các cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận tố giác theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC như sau:

Điều 5. Trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

1. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm:

a) Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân;

b) Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân;

c) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

d) Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát quân sự Trung ương;

đ) Bộ đội Biên phòng;

e) Cơ quan Hải quan;

g) Cơ quan Kiểm lâm;

h) Lực lượng Cảnh sát biển;

i) Các cơ quan khác của Công an nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

k) Các cơ quan khác của Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

l) Viện kiểm sát;

m) Công an xã, phường, thị trấn, đồn, trạm Công an;

n) Tòa án;

p) Cơ quan báo chí;

q) Các cơ quan, tổ chức khác.

2…” 

2/  Do thông tin bạn cung cấp chưa đủ để chúng tôi đưa ra kêt luận hành vi trên là hành vi vi phạm hành chính hay tội phạm hình sự. Do đó, có thể xảy ra các trường hợp như sau:

Trường hợp 1: hành vi trên cấu thành tội phạm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự, khi đó người đánh bố bạn có thể “bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”

Trường hợp 2: hành vi trên chưa đến mức cấu thành tội phạm hình sự thì sẽ bị xử lý theo quy định tại điểm e khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

“Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

e/ Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác”

Kết luận

1. Bạn có thể gửi đơn tố giác kèm theo tài liệu, chứng cứ hoặc đến tố giác trực tiếp tại các cơ quan theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC được nêu ở trên.

2. Hành vi gây thương tích nhẹ cho bố bạn của người đó có thể bị truy cứu về tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự hoặc chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng.

Trên đây là những giải đáp, tư vấn từ phía Công ty Luật Minh Khuê cho câu hỏi của Quý khách hàng. Nếu còn có điều gì thắc mắc, mời Quý khách hàng gọi điện trực tiếp đến tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến1900 6162 để được giải đáp nhanh chóng và chính xác nhất.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê