Một lần H kiểm tra hàng nhập khẩu vào việt nam thì phát hiện số lượng hàng vượt quá rất nhiều so với số lượng theo hóa đơn (số hàng vượt quá trị giá khoảng 150 triệu đồng, có thể bị xử lý theo khoản 1 điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 ). Chủ hàng là Y đã gọi h ra một chỗ trao đổi riêng. Y đưa cho H một chiếc phong bì trong có chứa 10 triệu đồng và đề nghị H bỏ qua cho số hàng vượt quá so với hoá đơn. H nhận tiền và đồng ý cho Y mang hàng đi. Câu hỏi:

1. Y phạm tội buôn lậu nêu trên thuộc loại tội phạm gì theo điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017

2. Nếu trong hàng hóa của Y buôn lậu có 1 kg thuốc phiện, Y bị truy tố về 2 tội buôn lậu và mua bán trái phép chất ma túy thì H có bị coi là đồng phạm với Y về 2 tội đó hay không.

3. Giả thiết Y không đưa tiền mà gọi H ra chỗ vắng và dọa sẽ tố cáo hành vi đánh bạc của h trước đây, H vì sợ bị xử lý kỷ luật nên đã phải bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y thì h có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu không. Tại sao.

4. Giả định nếu Y đang có án tích về tội buôn bán hàng cấm ( bị xét xử theo khoản 2 điều 190 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 ) nay lại phạm tội buôn lậu với số hàng hóa vượt quá như tình huống nêu trên thì y bị coi là có tình tiết tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.

Người gửi : Dương Việt Phương

Luật sư trả lời:

1, Y phạm tội buôn lậu nêu trên thuộc loại tội phạm nào theo khoản 3 điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 ?

A phạm tội buôn lậu theo khoản 1 điều 188 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 theo đó Y sẽ bị xử phạt tiền từ 50 triệu đồng đến 300 triệu đồng hoặc bị xử phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm. Như vậy, hình phạt cao nhất giành cho Y về tội buôn lậu là 6 năm. Trong đó, khoản 3 điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định như sau:

Điều 9. Phân loại tội phạm

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:

1. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

2. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;

3. Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;

4. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”

Hình phạt cao nhất của Y là 6 năm sẽ rơi vào khung hình phạt của tội phạm nghiêm trọng với khung hình phạt từ 03 đến 07 năm. Như vậy, tội buôn lậu của Y theo khoản 2 điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 là tội phạm nghiêm trọng.

2. Nếu trong hàng hóa của Y buôn lậu có 1 kg thuốc phiện, Y bị truy tố về 2 tội buôn lậu và mua bán trái phép chất ma túy thì H có bị coi là đồng phạm với Y về 2 tội đó hay không ?

Theo khoản 1 điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 về tội đồng phạm được quy định như sau:

“ Điều 19. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.”

....

Như vậy, theo quy định của pháp luật, để cấu thành tội đồng phạm phải có từ hai người trở lên cùng cố ý thực hiện một tội phạm. Trong tình huống này sẽ có hai trường hợp như sau:

Trường hợp thứ nhất: H không biết trong hàng hóa buôn lậu của Y có 1 kg thuốc phiện. Như vậy, H chỉ là đồng phạm của Y về tội buôn lậu vì H không biết trong hàng hóa buôn lậu của Y có thuốc phiện nên H không có cùng mục đích với Y trong tội buôn bán thuốc phiện.

Trường hợp thứ hai: H biết trong hàng hóa buôn lậu của Y có 1 kg thuốc phiện nhưng vẫn cho qua. Như vậy, H đã tiếp tay cho Y trong việc vận chuyển 1 kg thuốc phiện nhằm mục đích buôn bán. Như vậy, H là đồng phạm với Y trong cả 2 tội.

3. Giả thiết Y không đưa tiền mà gọi H ra chỗ vắng và dọa sẽ tố cáo hành vi đánh bạc của H trước đây, H vì sợ bị xử lý kỷ luật nên đã phải bỏ qua cho hành vi buôn lậu của Y thì H có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu không. Tại sao.

Trong trường hợp này, H không phải chịu trách nhiệm về tội buôn lậu. Tuy nhiên, H sẽ phải chịu trách nhiệm về tội không tố giác tội phạm theo điều 390 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 :

" Điều 390. Tội không tố giác tội phạm

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 389 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm."

Trong trường hợp này, H biết rõ hành vi phạm tội buôn lậu của Y tuy nhiên vì lo sợ Y tố giác nên H đã không báo cáo mà bỏ qua cho hành vi phạm tội của Y nên H sẽ bị truy cứu trách nhiệm về tội phạm này.

4. Giả định nếu Y đang có án tích về tội buôn bán hàng cấm ( bị xét xử theo khoản 2 điều 190 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017) nay lại phạm tội buôn lậu với số hàng hóa vượt quá như tình huống nêu trên thì Y bị coi là có tình tiết tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.

Hành vi phạm tội của Y trước đó theo khoản 2 điều 190 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017sẽ bị xử phạt từ 05 đến 10 năm. Mức hình phạt cao nhất của Y về tội này là 10 năm. Theo điều 9 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định:

Điều 9. Phân loại tội phạm

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành bốn loại sau đây:

1. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù đến 03 năm;

2. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm đến 07 năm tù;

3. Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù;

4. Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”

Như vậy, mức hình phạt cao nhất của Y là 10 năm sẽ rơi vào khung hình phạt của tội rất nghiệm trọng với khung hình phạt từ 07 đến 15 năm tù. Vì chưa được xóa án tích mà Y lại tiếp tục phạm tội với tính chất nghiêm trọng nên trong trường hợp này hành vi phạm tội của Y sẽ là tái phạm theo quy định tại điều 53, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 :

" Điều 53. Tái phạm, tái phạm nguy hiểm

1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý.

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý."

Mặt khác, nếu tội phạm rất nghiêm trọng mà Y thực hiện trước đó là tái phạm thì hành vi phạm tội của Y sẽ bị coi là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 53 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê