1. Tội cho vay lãi nặng theo luật hình sự

Cho vay nặng lãi là một hành vi vi phạm pháp luật theo luật hình sự năm 1999. Tội cho vay lãi nặng được quy định tại điều 163 của bộ luật này với nội dung cụ thể:

Tội cho vay lãi nặng theo luật hình sự

Điều 163 luật hình sự năm 1999 quy định về tội cho vay lãi nặng:

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Tội cho vay lãi nặng theo luật hình sự

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: - 1900.6162

------------------------------------------------------

PHÂN TÍCH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI CHO VAY LÃI NẶNG:

Theo quy định của Bộ Luật dân sự, việc vay mượn giữa các cá nhân với nhau theo quy định của Bộ luật Dân sự đã hình thành quan hệ hợp đồng vay tài sản.

Theo Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2005, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay, khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về lãi suất như sau:

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất, áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ”.

Theo câu hỏi của bạn, bạn vay của của một người phụ nữ 18 triệu đồng, lãi suất 30%/tháng. Một thời gian sau, người này đòi tiền lãi 180.000 đồng mỗi ngày, tổng tiền lãi là 30 triệu đồng.

Như vậy, việc thỏa thuận mức lãi suất 30%/tháng trước hết là vi phạm pháp luật dân sự về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự nói trên. Khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm. Như vậy, chỉ có thể áp dụng mức lãi suất tối đa đối với khoản tiền bạn vay là 13,5%/năm. Hiện tại, nếu bạn và người này không thống nhất với nhau được về mức lãi suất, bạn có thể khởi kiện ra Tòa dân sự.

Bên cạnh đó, Điều 163 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến 10 lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến 5 lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến 5 năm".

Theo quy định của điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn hai dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên. Mức lãi suất 30%/tháng bạn phải thỏa thuận khi vay đã cao gần 26 lần so với quy định của pháp luật.

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Trân trọng./.

2. Cho vay với lãi suất 30 % một tháng có quá quy định nhà nước không ?

Thưa luật sư xin tư vấn giúp tôi, Tôi có cho một người bạn là sinh viên vay 13 000 000 hai bên co thỏa thuận lãi suất 30% một tháng Nhưng vay hai lần .lần dau 29/11/2014 số tiền là 8 000 000 bạn tôi có để lại 2 400 000 tiền lãi tháng đầu, hạn trả là ba tháng.

Lần hai ngày 12/12/2014 số tiền 5 000 000 nhưng chưa đóng lãi suất hạn trả một tháng . Nhưng tới nay đã quá hạn trả tiền mà bạn tôi vẫn không trả tiền lãi và tiền gốc tôi có đòi bạn tôi trả tiền gốc thoi ,nhưng bạn tôi bảo không trả còn dọa sẽ kiện tôi vì cho vay nặng lãi. Thưa luật sư trả lời giúp như vậy lãi suất 30% một tháng vậy tôi có phạm tội không và tôi có thể lấy lại tiền gốc không ?

Xin luật sư hãy tư vấn giúp.

Xin cảm ơn!

Người hỏi: tuan duong thanh

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến (24/7) gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Với câu hỏi của bạn, Công ty Luật Minh Khuê xin được hỗ trợ giải đáp như sau:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 476 Bộ luật Dân sự 2005 quy định:

Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”.

Hậu quả pháp lý: Khi có tranh chấp xảy ra thì Nhà nước không bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29-11-2010 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây viết tắt là Quyết định 2868) quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm, có hiệu lực từ ngày 01/12/2010.

Từ đó, chúng ta hoàn toàn có thể tính được mức lãi suất tối đa mà các bên thỏa thuận không được vượt quá trên 1 năm sẽ là 13,5% (9x150%), trên 1 tháng là 1,125% (13,5%/12).

Như vậy, với việc cho vay với mức lãi suất 30 %/tháng là hành vi vi phạm pháp luật, mà trước hết là vi phạm pháp luật dân sự về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự nói trên.

Bên cạnh đó, Điều 163 Bộ luật Hình sự 1999 quy định về Tội cho vay nặng lãi như sau:

"1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ 6 tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Theo quy định của Điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn 2 dấu hiệu sau đây:

Thứ nhất: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên. Như vậy theo tính toán nêu trên thì mức lãi suất tối đa mà các bên thỏa thuận không được vượt quá trên một năm sẽ là 13,5% (9x150%), trên 1 tháng 1,125% (13,5%/12) và thực tế là bạn đã cho vay với mức lãi suất 30%/tháng cao hơn gấp gần 26,67 lần so với quy định của pháp luật (đã thỏa mãn điều kiện này).

Thứ hai: Có tính chất chuyên bóc lột được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao (lãi nặng) nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Như vậy, hành vi cho vay nặng lãi của bạn như trên mà thỏa mãn điều kiện thứ hai thì hành vi cho vay bạn hỏi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điều 136 Bộ luật Hình sự năm 1999 và bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trong trường hợp bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bạn muốn lấy lại số tiền gốc với tiền lãi theo pháp luật quy định, bạn có thể khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự. Khi khởi kiện ra tòa án thì bạn chỉ được hưởng lãi suất là 1,125%/ năm. Đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng nhà nước quyền lợi của bạn sẽ không được bảo vệ.

Trên đây là những giải đáp từ phía công ty chúng tôi cho thắc mắc của bạn. Nếu còn vướng mắc nào khác, bạn có thể liên hệ trực tiếp đến công ty để được hỗ trợ.

Trân Trọng./.

3. Cho vay 10 ngày với mức lãi suất 0.3%/ngày có phạm luật ?

Xin chào Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Tôi làm cửa hàng cầm đồ và tôi cho vay với lãi suất 0.3%/ngày trong thời hạn 10 ngày thì cin thưa quý công ty có phạm luật hay không vậy?
Xin chân thành cám ơn quý công ty.
Người gửi: Lê

lãi suất

Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Câu hỏi của bạn, chúng tôi xin trả lời như sau:

Bạn cho vay với lãi suất 0.3%/ ngày =9% tháng, lãi suất hiện tại ở ngân hàng tối đa là 12%/ tháng như vậy việc bạn cho vay là không vi phạm pháp luật vì : mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được quy định tại Thông tư 05/2012/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc quy định lãi suất tối đa đối với tiền gửi bằng đồng Việt Nam của tổ chức, cá nhân tại tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài là "Lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 13%/năm; riêng Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở ấn định mức lãi suất tối đa đối với tiền gửi kỳ hạn từ 1 tháng trở lên là 13,5%/năm.”

Trân trọng./.

4. Hành vi cho vay với lãi suất lớn ?

Chào luật sư Minh khuê. Trường hợp tôi đi vay tiền nhưng lại khi viết giấy bán xe. Tôi để lại giấy tờ xe cho chủ nợ , chủ nợ cho vay số tiền là 4 triệu đồng và giữa lại giấy tờ xe của tôi. Hàng tháng tôi phải trả lãi là 360.000đ/1 tháng . Khoảng 3 nghìn đồng/ngày/triệu.
Vậy hành vi này của chủ nợ có đúng không ? Xin cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

heo thông tin bạn đưa ra thì đây là hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự 2005. Điều 476 Luật dân sự 2005 quy định như sau:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”

Theo quyết định số 2868/QĐ-NHNN mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm.Vậy theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 thì chỉ được áp dụng mức lãi suất cao nhất với khoản tiền bạn cho vay là: 9%/năm x 150% = 13,5%/năm.

Hợp đồng vay tiền với số tiền cho vay là 1 triệu VND thì mức lãi suất tối đa mà các bên có thể thỏa thuận khi vay tiền là:

+ Số tiền lãi suất năm là: 1 triệu x 150 % = 135.000/năm

+ Tương ứng là 11.250 VND /tháng và 370 VND/ngày

Như vậy, bên cho vay đã cho vay với mức lãi suất cao hơn theo quy định của Bộ luật dân sự 2005. Vậy nên khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật sẽ không thừa nhận với phần lãi suất vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Bên cho vay sẽ chỉ nhận được khoản tiền cho vay ban đầu và phần lãi suất đúng luật.

Tuy nhiên hành vi này của chủ nợ với bạn chưa cấu thành tội cho vay lãi nặng.

>> Bài viết tham khảo thêm: Khi nào người cho vay nặng lãi bị phạm tội ?

5. Mức lãi suất dân sự các bên được phép thỏa thuận cho vay là bao nhiêu ?

Thư luật sư,do công việc kinh doanh của gia đình bị trở ngại mẹ tôi có mượn tiền một người quen lãi suất 15%/ tháng thì có được gọi là cho vay nặng lãi không ạ. và hiện tại mẹ không có khả năng chi trả nổi vì mỗi tháng đến kỳ hạn có tháng mẹ k gửi kịp thì tiền lãi đó lại đẻ ra tiền lãi khác cứ cộng dồn như vậy Mẹ không trả được thì người này hâm dọa đủ điều ?
Mong luật sư giúp tôi giải quyết vấn đề trong hoàn cảnh này

Mức lãi suất dân sự các bên được phép thỏa thuận cho vay là bao nhiêu ?

Luật sư tư vấn:

- Theo quy định tại Điều 476Bộ luật dân sự năm 2005:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.”.

Theo Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9%/năm. Do đó, nếu theo quy định tại Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005 thì chỉ có thể áp dụng mức lãi suất cao nhất đối với khoản tiền bạn vay là: 9%/năm x 150% = 13,5%/năm, tức là không quá 1.125%/tháng.

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn vay tiền với lãi suất trong hợp đồng là 15%/tháng. Việc thỏa thuận mức lãi suất 15%/tháng đã vượt quá 13,5%/năm nên trước hết là vi phạm pháp luật dân sự về việc áp dụng lãi suất cho vay theo quy định tại Điều 476 Bộ luật Dân sự nói trên. Khi có tranh chấp xảy ra, pháp luật không thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Hiện tại, nếu bạn và người cho bạn vay không thống nhất với nhau được về mức lãi suất, bạn có thể khởi kiện ra Tòa dân sự.

- Về tội cho vay nặng lãi theo quy định của Bộ luật hình sự, tại Điều 163 có quy định như sau:

“1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Theo quy định của điều luật trên, việc cho vay nặng lãi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn đồng thời hai dấu hiệu sau đây:

- Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên. Mức lãi suất 15%/tháng bạn phải thỏa thuận khi vay đã cao hơn hơn 10 lần so với mức lãi suất cao nhất được pháp luật cho phép là 1.125%/tháng.

- Có tính chất chuyên bóc lột, tính chất này được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, quẫn bách của người đi vay để cho vay với lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính mà thực chất là bóc lột người đi vay. Tính chất chuyên bóc lột của hành vi cho vay lãi nặng có thể được thể hiện ở chỗ: người phạm tội thực hiện hành vi cho vay lãi nặng nhiều lần, hành vi mang tính chuyên nghiệp, người phạm tội lấy việc cho vay lãi nặng làm một nghề kiếm sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.

Đối chiếu với các dấu hiệu trên, trường hợp của bạn có thể cấu thành tội cho vay nặng lãi. Vì vậy, bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi trên của chủ nợ để cơ quan chức năng điều tra, xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

>> Bài viết tham khảo thêm: Luật hình sự quy định thế nào về tội cho vay nặng lãi

6. Tư vấn quy định về lãi suất cơ bản ?

Những tưởng chuyện lãi suất cơ bản đã được giải quyết khi hệ thống ngân hàng đã quay về với cơ chế lãi suất thỏa thuận nhưng mọi chuyện vẫn chưa ngã ngũ khi chỉ còn một thời gian ngắn nữa Quốc hội sẽ thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước, trong đó phải định nghĩa lãi suất cơ bản là gì.

“Cơ bản” nhưng không cơ bản

Nước nào cũng phải sử dụng một số công cụ để thực thi chính sách tiền tệ nhằm đạt được những mục tiêu nào đó, như kiềm chế lạm phát chẳng hạn. Lãi suất là một công cụ như thế bên cạnh công cụ tăng giảm dự trữ bắt buộc.

Thông thường ngân hàng trung ương một nước tác động lên lãi suất bằng con đường gián tiếp, có nghĩa thông qua nghiệp vụ thị trường mở để tăng hay giảm tổng phương tiện thanh toán. Ví dụ, ngân hàng trung ương mua vào trái phiếu chính phủ, tức làm tăng tổng lượng tiền trong lưu thông thì lãi suất thị trường sẽ giảm. Cũng có thể tác động trực tiếp bằng cách tăng hay giảm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu – là những loại lãi suất ngân hàng trung ương ấn định trong quan hệ mua bán các loại giấy tờ có giá với ngân hàng thương mại.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến, gọi: 1900.6162

Nói cách khác, lãi suất cơ bản như đang được định nghĩa (là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh) hoàn toàn không phải là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia đúng nghĩa như thông lệ quốc tế.

Khi Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất cơ bản là 8% chẳng hạn và dựa vào quy định của Bộ luật Dân sự để áp đặt “trần” lãi suất thương mại là 12%, đó là mệnh lệnh hành chính ít nhiều mang tính khiên cưỡng.

Thực tế, các “trần” như thế đều sớm muộn bị phá bỏ, hoặc là do ngân hàng thương mại lách luật (tính thêm phí) hoặc do Ngân hàng Nhà nước tự tháo gỡ (cho áp dụng lãi suất thỏa thuận).

Có thể nói Luật Ngân hàng Nhà nước hiện hành đã cung cấp các loại lãi suất thật sự mang tính “cơ bản” như các nước khác, như lãi suất tái cấp vốn hay lãi suất tái chiết khấu nhưng vì lý do nào đó, Ngân hàng Nhà nước đã khoác cho lãi suất cơ bản cái vai trò nó không có nên cứ lúng túng chuyện bỏ hay không bỏ khái niệm lãi suất cơ bản.

Một trong những nguyên nhân là do thị trường trái phiếu chính phủ nước ta chưa phát triển, giao dịch chưa nhiều nên dùng các công cụ gián tiếp để tác động lên lãi suất rất chậm, điều chỉnh lượng tiền trong lưu thông khó khăn. Vì thế người ta đã “tận dụng” lãi suất cơ bản làm công cụ mang tính hành chính để điều hành cho dễ, cho nhanh bất kể quy luật thị trường.

Cái vướng hiện nay là lãi suất cơ bản còn có một vai trò nữa do Bộ luật Dân sự quy định: nó được dùng để xác định thế nào là cho vay nặng lãi (cho vay với lãi suất quá 150% lãi suất cơ bản), với hàm ý của người làm luật là áp dụng chủ yếu trong quan hệ tín dụng giữa cá nhân và cá nhân hay trong khu vực kinh tế phi chính thức. Một loại lãi suất bị định nghĩa sai, bị sử dụng sai lại đóng nhiều vai trò – đó là vấn đề cần giải quyết.

Các phương án được dự thảo

Dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước giải quyết vấn đề này bằng nhiều cách khác nhau. Dự thảo công bố hồi tháng 9 năm ngoái bỏ luôn khái niệm lãi suất cơ bản. Điều khoản về lãi suất chỉ quy định: “Ngân hàng Nhà nước xác định, công bố lãi suất tái cấp vốn và các loại lãi suất điều hành khác nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia”. Cách này vấp phải sự chống đối của nhiều đại biểu Quốc hội vì họ hiểu nhầm Ngân hàng Nhà nước từ bỏ một công cụ quan trọng để điều hành chính sách tiền tệ quốc gia. Lẽ ra đi kèm với dự thảo này, Ngân hàng Nhà nước giải thích rõ cho công luận biết lãi suất cơ bản vẫn còn đó, nhưng được gọi bằng tên khác như thế nào thì ắt đã không có sự phản đối nói trên.

Đến dự thảo công bố vào tháng 3-2010, lãi suất cơ bản lại được đưa vào nhưng với định nghĩa hoàn toàn khác: “Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố bao gồm lãi suất để thực hiện chính sách tiền tệ và lãi suất để áp dụng cho các giao dịch dân sự”. Định nghĩa như thế ngay lập tức gây ra luồng ý kiến phản đối theo hướng khác. Nhiều người cho rằng không thể có hai loại “lãi suất cơ bản”, một cái để áp dụng cho các tổ chức tín dụng và một cái để áp dụng cho dân thường hay nói cách khác, không thể có chuyện ngân hàng thoải mái cho vay “nặng lãi” còn người dân thì bị cấm.

Thật ra định nghĩa như trên chứa đựng nhiều lúng túng: không lẽ giao dịch giữa khách hàng và ngân hàng không phải là giao dịch dân sự; lãi suất để thực hiện chính sách tiền tệ là lãi suất gì; quan hệ của nó với lãi suất tái cấp vốn là sao, căn cứ vào đâu để xác định và công bố hai loại lãi suất như thế? Rồi để giải quyết vướng mắc từ Bộ luật Dân sự, dự thảo quy định: “Ngân hàng Nhà nước công bố lãi suất làm cơ sở áp dụng cho các giao dịch theo Bộ luật Dân sự trừ hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng”, càng thể hiện sự lúng túng khi cố ý không dùng cụm từ “lãi suất cơ bản”, và tự loại trừ hoạt động ngân hàng khỏi phạm vi ảnh hưởng của Bộ luật Dân sự một cách miễn cưỡng, thậm chí trái luật.

Không còn cách nào khác

Trong bối cảnh hiện nay khi Ngân hàng Nhà nước hầu như không có động thái nào chuẩn bị cho dư luận hay các đại biểu Quốc hội về thực chất vấn đề của lãi suất cơ bản, thiết nghĩ dự thảo Luật Ngân hàng Nhà nước không nên bỏ khái niệm này vì sẽ vấp phải sự phản đối của đại đa số đại biểu.

Như TBKTSG đã từng nêu ý kiến (Bài “Chung quy vẫn là chuyện câu chữ”, số báo ra ngày 28-1-2010 – xem phần dưới), việc sửa đổi Bộ lut Dân sự sẽ khó khăn vì xã hội nước ta hiện đang dị ứng với nạn cho vay nặng lãi trong người dân; việc bỏ khái niệm lãi suất cơ bản cũng khó được đồng tình vì sẽ bị hiểu sai là Ngân hàng Nhà nước từ bỏ vai trò điều tiết thị trường. Vậy phải làm sao để giải quyết đồng thời các yêu cầu: 1/Duy trì một loại “lãi suất cơ bản” mà Bộ luật Dân sự có dẫn chiếu để ngăn ngừa nạn cho vay nặng lãi; 2/Không để “lãi suất cơ bản” này đẩy hoạt động tín dụng trong hệ thống ngân hàng rơi vào bế tắc vì trần lãi suất; 3/Xác định loại “lãi suất cơ bản” đúng nghĩa như các nước khác đang dùng để làm công cụ điều hành tiền tệ?

Cách duy nhất thỏa mãn cả ba yêu cầu này là định nghĩa lại “lãi suất cơ bản” như là lãi suất trung bình của 5 hay 10 ngân hàng thương mại lớn nhất thị trường. Yêu cầu 1/ như thế đã được đáp ứng, ai cho vay quá 150% lãi suất này coi chừng bị phạm tội cho vay nặng lãi mà yêu cầu 2/ cũng không bị ảnh hưởng (không có ngân hàng nào muốn áp dụng lãi suất cao gấp 1,5 lần so với ngân hàng khác). Để thỏa mãn yêu cầu 3/ dự thảo cần định nghĩa lãi suất tái cấp vốn sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế để lãi suất này đóng vai trò như lãi suất “base rate” hay “bank rate” ở Anh, “Fed fund rates” ở Mỹ, và đó chính là lãi suất để điều hành chính sách tiền tệ.

* * * * * * * * * *

Chung quy vẫn là chuyện câu chữ

Hiện đang tồn tại dai dẳng một cách hiểu sai về khái niệm lãi suất cơ bản, dẫn đến những ách tắc không đáng có cho thị trường tín dụng mà những nỗ lực tháo gỡ vẫn chưa đem lại kết quả mong muốn.

Rất nhiều người cứ nghĩ rằng lãi suất cơ bản của Việt Nam cũng giống các loại lãi suất chính thức mà các nước thường hay công bố để điều hành chính sách tiền tệ. Thật ra, lãi suất của các nước do ngân hàng trung ương nước họ ấn định là nhằm tác động gián tiếp đến lãi suất thương mại trên thị trường vì ngân hàng trung ương sẽ dựa vào lãi suất này để cho các tổ chức tín dụng vay lại hay chiết khấu các loại giấy tờ có giá. Lãi suất do ngân hàng trung ương đưa ra sẽ tác động trực tiếp lên lãi suất vay vốn giữa ngân hàng trung ương và ngân hàng thương mại, từ đó gián tiếp tác động lên lãi suất thương mại trên thị trường.

Còn theo định nghĩa chính thức, lãi suất cơ bản của Việt Nam “do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh”, một vai trò mà chính Thống đốc NHNN Nguyễn Văn Giàu xác nhận “… lãi suất cơ bản của chúng ta hiện nay là không có thực, vì lãi suất này không có mối quan hệ vay mượn nào giữa ngân hàng trung ương với tổ chức tín dụng” (phát biểu tại buổi họp góp ý cho dự thảo Luật ngân hàng nhà nước do Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức vào cuối tháng 12-2009).

Cái lãi suất mà các nước công bố chính là lãi suất tái cấp vốn hay lãi suất chiết khấu của Việt Nam, còn lãi suất cơ bản như định nghĩa là không tồn tại ở các nước. Từ một vấn đề câu chữ mơ hồ như thế, lãi suất cơ bản lại đang trói buộc quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng, có hại cho việc điều hành kinh tế do gắn với một quy định của Bộ luật Dân sự, không cho phép lãi suất thương mại vượt quá 150% lãi suất cơ bản.

Thiết nghĩ việc sửa đổi Bộ luật Dân sự sẽ khó khăn vì xã hội nước ta hiện đang dị ứng với nạn cho vay nặng lãi; việc bỏ khái niệm lãi suất cơ bản cũng khó được đồng tình vì sẽ bị hiểu sai là NHNN từ bỏ vai trò điều tiết thị trường.Cách tốt nhất là nhân dịp thông qua Luật NHNN (sửa đổi) sắp tới, NHNN phải chủ động soạn thảo lại các khái niệm cơ bản của các loại lãi suất. Trong đó, lãi suất cơ bản sẽ được định nghĩa lại như là lãi suất tốt nhất mà ngân hàng cho vay đối với khách hàng. Lãi suất này do thị trường quyết định còn tính toán như thế nào thì chỉ cần một công thức với các trọng số cho các loại ngân hàng và khách hàng tín dụng.

NHNN sẽ tiếp tục đóng vai trò điều tiết thị trường thông qua các công cụ hiện có như lãi suất tái cấp vốn, lãi suất chiết khấu… hoàn toàn như ở các nước khác. Lúc đó nếu chúng ta muốn giảm dư nợ để kiểm soát lạm phát thì nâng lãi suất tái cấp vốn của NHNN lên, còn muốn đẩy nhanh tăng trưởng tín dụng thì giảm lãi suất này xuống. Đây cũng chính là ý phát biểu của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu tại buổi họp nói trên. Rất mong giới hành chính và lập pháp nước ta nhanh chóng nhất trí một phương cách để tháo gỡ khó khăn cho cả ngân hàng và giới doanh nghiệp.

MKLAW FIRM (Sưu tầm và biên tập)