1. Tội chống người thi hành công vụ theo quy định bị phạt thế nào ?

Thưa Luật sư, vào ngày 31/12/2017 tôi có xem một đoạn clip trên mạng ghi lại hình một thanh niên xăm trổ, không đội mũ bảo hiểm và đèo bạn gái khi tham gia giao thông tại Nha Trang, Khánh Hòa. Khi phát hiện thanh niên này đã vi phạm hành chính thì lực lượng cảnh sát giao thông đã ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm tra thì anh này không hề hợp tác, thậm trí dùng dao để chống lại lực lượng.
Vậy luật sư cho tôi hỏi, anh thanh niên xăm trổ kia sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự thế nào? Cảm ơn!

Tội chống người thi hành công vụ theo quy định mới từ ngày 01/01/2018

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về tội danh chống người thi hành công vụ, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo điều 330 Bộ luật Hình sự 2015 quy định:

Điều 330. Tội chống người thi hành công vụ

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây thiệt hại về tài sản 50.000.000 đồng trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì người thanh niên đó có dùng dao để cản trở lực lượng cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ vì vậy căn cứ theo quy định trên thì người đó sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi nguy hiểm với xã hội của mình. Căn cứ theo khoản 1 điều 330 Bộ luật hình sự 2015 thì khung hình phạt sẽ là phạt cảu tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về Tội chống người thi hành công vụ theo quy định mới từ ngày 01/01/2018. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Đánh người có phải là hành vi chống người thi hành công vụ không?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi là một A trưởng tự vệ vào một lần làm nhiệm vụ, Được sự điều động của công an viên đến nhà nhà anh A để giải quyết vấn đề, lúc tôi tới thì đã thấy đối tượng B nằm giữa sân với những vết máu trên người. Tôi cố khuyên giải nhưng đối tượng B lăng nhục và còn đánh tôi nhưng tôi đã tránh được hết và vứt các hung khí ra ngoài, cho tới khi công an xã tới mới đưa được đối tượng B về thì lúc này một đối tượng C nhảy vào đánh tôi vào mặt nhiều lần làm tôi phải nhập viện.
Xin hỏi luật sư như thế này có được coi là chống người thi hành công vụ được không ? Cảm ơn!

Đánh người có phải là hành vi chống người thi hành công vụ không?

Luật sư tư vấn hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời

Theo Điều 257 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 có quy định về Tội chống người thi hành công vụ được quy định như sau:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm :

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.”

Các dấu hiệu cơ bản cấu thành tội phạm này là:

- Khách thể: là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công.

+ Đối tượng tác động của tội phạm này là người đang thi hành công vụ. Người thi hành công vụ là người được Nhà nước hoặc xã hội giao cho những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong quản lý lĩnh vực hành chính Nhà nước nhất định (cán bộ thuế vụ, cảnh sát giao thông, bộ đội biên phòng... ).

+ Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Nếu người thi hành công vụ lại là người làm trái pháp luật mà bị xâm phạm thì hành vi của người có hành vi xâm phạm không phải là hành vi chống người thi hành công vụ.

- Khách quan: có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật. Vũ lực dùng trong trường hợp này không thuộc trường hợp nói tại Điều 93, 104 Bộ luật hình sự. Cụ thể người phạm tội có thể có những hành vi sau:

+ Dùng vũ lực chống người thi hành công vụ là dùng sức mạnh vật chất tấn công trực tiếp người đang thi hành công vụ (đấm, đâm, chém...)

+ Đe doạ dùng vũ lực là dùng lời nói, cử chỉ có tính răn đe, uy hiếp khiến người thi hành công vụ sợ hãi, phải chấm dứt việc thực thi công vụ... Sự đe doạ là thực tế có cơ sở để người bị đe doạ tin rằng lời đe doạ sẽ biến thành hiện thực.

+ Cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật là khống chế, ép buộc người thi hành công vụ phải làm những điều trái với chức năng, quyền hạn của họ hoặc không làm những việc thuộc chức năng quyền hạn của họ.

+ Các thủ đoạn khác chống người thi hành công vụ là hành vi bôi nhọ, vu khống, đe doạ sẽ cung cấp những tin tức bất lợi cho người thi hành công vụ…

- Tất cả các hành vi nói trên người phạm tội thực hiện đối với người thi hành công vụ là để ngăn cản người thi hành công vụ thực hiện công vụ của mình hoặc buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật.

- Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội có một trong những hành vi nêu trên để ngăn cản người thi hành công vụ thực hiện công vụ của mình hoặc buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật. Việc người thi hành công vụ có nghe theo yêu cầu của người phạm tội hay không không có ý nghĩa định tội.

Hành vi chống người thi hành công vụ nếu gây thương tích hoặc làm chết cán bộ thi hành công vụ thì người phạm tội còn có thể bị truy cứu TNHS về các tội phạm tại Chương XII Bộ luật hình sự (tội cố ý gây thương tích, tội giết người…).

- Chủ quan: là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết mình đang cản trở người thi hành công vụ hoặc cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật.

Nếu một người khi thực hiện hành vi mà không biết là đang cản trở người thi hành công vụ hoặc cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật, có cơ sở chính đáng thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng nếu có gây thương tích hoặc chết người.

- Chủ thể: bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

3. Tư vấn về tội lợi dụng chức vụ trong khi thi hành công vụ theo quy định mới của luật hình sự ?

Thưa luật sư, Tôi làm nhân viên kế toán trong 1 công ty có 2/3 vốn là nhà nước. Trong quá trình làm lương. Tôi có chấm công cho 1 số lao động theo chỉ đạo của cấp trên, mặc dù những công nhân đó đang nghỉ việc riêng. Dẫn đến việc số lao động đó ko đi làm nhưng vẫn được hưởng lương.

Số tiền làm khống đó tôi không được hưởng mà hoàn toàn do quản đốc và số lao động đó thống nhất với nhau. Là nhân viên nên vì công việc tôi đã làm theo chỉ đạo của cấp trên. Số tiền mà tôi chịu trách nhiệm ký khống là 430 triệutôi muốn hỏi khi điều tra khép tội cho tôi vào điều 281 bộ luật hình sự có hợp lý. Tôi có phải bồi hoàn số tiền trong khi tôi không được hưởng lợi. Và trường hợp của tôi sẽ bị định vào khoản mấy theo điều 281 bộ luật hình sự ?

Cảm ơn luật sư!

Tư vấn về tội lợi dụng chức vụ trong khi thi hành công vụ theo quy định mới của luật hình sự ?

Luật sư trả lời:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 281 Bộ Luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 (văn bản mới: bộ luật hình sự năm 2015, bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về "Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" cụ thể như sau:

Điều 281. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ mười năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Dựa trên những thông tin mà bạn cung cấp thì hành vi của bạn không đủ yếu tố để cấu thành "Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ" theo quy định tại Điều 281 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009. Hành vi của bạn có thể sẽ đủ yếu tố để cấu thành "Tội giả mạo trong công tác" theo quy định tại Điều 284.

Điều 284. Tội giả mạo trong công tác

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu;

b) Làm, cấp giấy tờ giả;

c) Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Về chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội giả mạo trong công tác phải đảm bảo các yếu tố (điều kiện) cần và đủ như: độ tuổi, năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại các Điều 12, 13 Bộ luật hình sự. Bạn là người có chức vụ, quyền hạn nhất định trong việc chấm công và làm bảng lương cho công ty và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sửa chữa, làm sai lệch nội dung về chấm công.

Về khách thể của tội phạm

Tội phạm này xâm phạm đến cơ chế hoạt động bình thường của công ty bạn đang công tác. Đối tượng tác động ở đây là giấy tờ chấm công cho lao động của công ty bạn.

Về mặt khách quan của tội phạm

Về hành vi khách quan: khách quan của tội phạm này là bạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện hành vi "sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu cụ thể là hành vi chấm công cho một số lao động theo chỉ đạo của cấp trên, mặc dù những lao động đó đang nghỉ việc riêng.
Về Hậu quả: bạn đã thực hiện hành vi làm bảng lương khống để dẫn đến việc số lao động đó ko đi làm nhưng vẫn được hưởng lương và số tiền đó là 430 triệu.

Về mặt chủ quan của tội phạm:

Căn cứ vào Điều 9 quy định về yếu tố lỗi trong hành vi phạm tội như sau:

Điều 9. Cố ý phạm tội

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xẩy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xẩy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Người phạm tội giả mạo trong công tác thực hiện hành vi của mình là cố ý trực tiếp. Bạn nhận thức rõ hành vi của mình là để lại thiệt hại lớn cho cho công ty, bạn thấy trước hậu quả của hành vi đó và có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Đối với tội phạm giả mạo trong công tác, động cơ phạm tội là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành, nếu bạn có các hành vi khách quan nêu ở trên trong trường hợp vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác thì sẽ cấu thành tội phạm theo Điều 284.

Dựa trên thông tin mà bạn đưa ra trường hợp của bạn thực hiện hành vi của mình dựa trên chỉ đạo của cấp trên thì bạn có thể chịu trách nhiệm hình sự với vai trò là đồng phạm. Tùy vào mức độ hành vi của bạn và kết luận điều tra của cơ quan điều tra sẽ quyết định mức hình phạt cụ thể.

Điều 20. Đồng phạm

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.

Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.

Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.

Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

4. Lỗi lạng lách và không chấp hành người thi hành công vụ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi có một người bạn, nó đang chạy xe thì bị CSGT xã thổi còi vào nhưng nó không dừng mà lại chạy tiếp nhưng rồi bị bắt lại. Theo tôi biết thì chỉ thổi còi kiểm tra giấy tờ thôi nhưng do nó chạy nên bị giam xe. Trong biên bản thì CSGT ghi thêm lỗi lạng lách đánh võng và không chấp hành người thi hành công vụ. Vậy thì bị xử phạt như thế nào?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: L.D

Lỗi lạng lách và không chấp hành người thi hành công vụ?

Luật sư tư vấn luật dân sự gọi số:1900.6162

Trả lời:

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Điểm m Khoản 4; điểm b Khoản 7 và Khoản 10 Điều 6 Nghị định số 171/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có quy định như sau:

"4. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

m) Không chấp hành hiệu lệnh, hướng dẫn của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông."

"7. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây:

b) Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị;"

"10. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe thực hiện hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm g Khoản 3 Điều này bị tịch thu còi, cờ, đèn sử dụng trái quy định;

b) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm m Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm đ Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 01 tháng;

c) Thực hiện hành vi quy định tại Điểm đ Khoản 5; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm e Khoản 6; Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng; tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần hành vi quy định tại Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 04 tháng, tịch thu phương tiện. Thực hiện hành vi quy định tại một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng: Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm a, Điểm đ, Điểm g, Điểm h, Điểm o Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k, Điểm m Khoản 4; Điểm b, Điểm d Khoản 5;

d) Thực hiện hành vi quy định tại Khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 04 tháng."

Như vậy, theo quy định trên thì hành vi không chấp hành người thi hành công vụ của bạn bạn có thể bị xử phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng; đối với hành vi điều khiển xe lạng lách, đánh võng trên đường bộ bạn của bạn có thể bị xử phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng. Ngoài ra, khi thực hiện hai hành vi trên, bạn của bạn còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng; nếu đây là tái phạm hoặc bạn của bạn đã vi phạm nhiều lần quy định tại Khoản 7 Điều 6 Nghị định 171/2013/NĐ-CP thì có thể bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 04 tháng và tịch thu phương tiện.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162 Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng!

5. Như thế nào được coi là chống người thi hành công vụ ?

Xin chào Luật sư! Tôi có vấn đề thắc mắc rất mong nhận được sự giải đáp như sau: Bố tôi có uống rượu say và gây sự với hàng xóm. Họ có gọi công an tới, khi công an tới thì bố tôi đã chửi họ.

Hậu quả là bố tôi đã bị phạt tù về tội chống người thi hành công vụ. Vậy cho tôi hỏi như vậy có đúng không ?

Tôi xin cảm ơn!

Như thế nào được coi là chống người thi hành công vụ ?

Luật sư tư vấn Luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời

Trước tiên bạn phải hiểu như thế nào là chống người thi hành công vụ? Theo quy định tại Điều 257 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định:

“Điều 257. Tội chống người thi hành công vụ

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm :

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.”

- Theo đó để cấu thành nên tội này thì người phạm tội phải thực hiện một trong các hành vi sau:

+ Hành vi dùng vũ lực là hành vi dùng sức mạnh vật chất tấn công có thể làm cho người thi hành công vụ bị thương, bị tổn hại đến sức khỏe hoặc chưa gây ra thương tích đáng kể (không có tỉ lệ thương tật qua giám định) nhằm mục đích cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, như: đấm, đá, dùng cây đánh, dùng đất, đá ném,...

+ Hành vi đe dọa dùng vũ lực đó là hành vi dùng lời nói hoặc hành động để uy hiếp tinh thần người thi hành công vụ làm cho họ sợ rằng việc dùng vũ lực sẽ xảy ra ngay tức khắc nhằm mục đích cản trở làm những người thi hành công vụ không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật.

+ Hành vi dùng thủ đoạn khác theo quy định của pháp luật hiện hành thì chưa có văn bản nào hướng dẫn hoặc quy định về các hành vi dùng thủ đoạn khác bao gồm các hành vi nào. Vì vậy trên thực tế cơ quan công an sẽ xem xét các hành vi không thuộc 2 trường hợp trên nhưng có mục đích cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật.

- Để cấu thành nên tôi phạm này ngoài các hành vi trên người phạm tội phải biết và nhận thức rõ được hành vi của mình là nhằm mục đích cản trở người thi hành công vụ hoặc cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật. Nếu một người khi thực hiện hành vi mà không biết là đang cản trở người thi hành công vụ hoặc cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật, có cơ sở chính đáng thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng.

Vì vậy, xét thấy hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các hành vi khách quan nêu trên là tội phạm đã hoàn thành. Và tội phạm hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện các hành vi chống đối, kháng cự, cưỡng ép người thi hành công vụ thực hiện các hành vi trái pháp luật.

Theo bạn nói thì bố bạn đã có hành vi chửi công an nên phải chịu chịu trách nhiệm hình sự bằng hình phạt tù về tội chống người thi hành công vụ.Có thể, cơ quan công an đã coi hành vi chửi bới của bố bạn là "hành vi dùng thủ đoạn khác" để cản trở công an làm nhiệm vụ. Vì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội chống người thi hành công vụ nên tội phạm được hoàn thành kể từ khi bố bạn thực hiện hành vi mà công an cho rằng đã chống đối họ thực hiện nhiệm vụ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

6. Tư vấn xác định tội chống người thi hành công vụ ?

Thưa luật sư, tôi có vấn đề muốn hỏi về tội chống người thi hành công vụ như sau: xin hỏi tôi là công an xã đang thực hiện theo kế hoạch của UBND xã và ban công an xã thì bị 2 đối tượng hành hung phải nhập viện.

Xin hỏi như vậy có phải là phạm tội chống người thi hành công vụ hay không ?

Rất mong nhận được sự tư vấn từ luật sư.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn xác định tội chống người thi hành công vụ ?

Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Đối với trường hợp của bạn để xem xét hành vi hành hung đối với bạn có phải là hành vi phạm tội chống người thi hành công vụ hay không thì trước tiên bạn phải hiểu như thế nào là chống người thi hành công vụ? Theo quy định tại Điều 257 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định:

Điều 257. Tội chống người thi hành công vụ

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm :

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.”

Theo Điều 3 Giải thích từ ngữ của Nghị định 208/2013/NĐ-CP quy định các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ thì có thể hiểu:

“1. Người thi hành công vụ là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân được cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội.
2. Hành vi chống người thi hành công vụ là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc không chấp hành hiệu lệnh, yêu cầu của người thi hành công vụ hoặc có hành vi khác nhằm cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ được giao hoặc ép buộc người thi hành công vụ không thực hiện nhiệm vụ được giao”.

Như vậy trên cơ sở quy định tại Điều 257 Bộ luật hình sự nêu trên có thể xác định các dấu hiệu cấu thành tội chống người thi hành công vụ bao gồm:

- Khách thể: là xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công.

+ Đối tượng tác động của tội phạm này là người đang thi hành công vụ. Người thi hành công vụ là người được Nhà nước hoặc xã hội giao cho những nhiệm vụ, quyền hạn nhất định trong quản lý lĩnh vực hành chính Nhà nước nhất định (cán bộ thuế vụ, cảnh sát giao thông, bộ đội biên phòng... ).

+ Người đang thi hành công vụ phải là người thi hành một công vụ hợp pháp, mọi thủ tục, trình tự thi hành phải bảo đảm đúng pháp luật. Nếu người thi hành công vụ lại là người làm trái pháp luật mà bị xâm phạm thì hành vi của người có hành vi xâm phạm không phải là hành vi chống người thi hành công vụ.

- Mặt khách quan: có hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật. Vũ lực dùng trong trường hợp này không thuộc trường hợp nói tại Điều 93, 104 Bộ luật hình sự. Cụ thể người phạm tội có thể có những hành vi sau:

+ Hành vi dùng vũ lực là hành vi dùng sức mạnh vật chất tấn công có thể làm cho người thi hành công vụ bị thương, bị tổn hại đến sức khỏe hoặc chưa gây ra thương tích đáng kể (không có tỉ lệ thương tật qua giám định) nhằm mục đích cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, như: đấm, đá, dùng cây đánh, dùng đất, đá ném,...

+ Hành vi đe dọa dùng vũ lực đó là hành vi dùng lời nói hoặc hành động để uy hiếp tinh thần người thi hành công vụ làm cho họ sợ rằng việc dùng vũ lực sẽ xảy ra ngay tức khắc nhằm mục đích cản trở làm những người thi hành công vụ không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật.

+ Hành vi dùng thủ đoạn khác theo quy định của pháp luật hiện hành thì chưa có văn bản nào hướng dẫn hoặc quy định về các hành vi dùng thủ đoạn khác bao gồm các hành vi nào. Vì vậy trên thực tế cơ quan công an sẽ xem xét các hành vi không thuộc 2 trường hợp trên nhưng có mục đích cản trở người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật.

- Tất cả các hành vi nói trên người phạm tội thực hiện đối với người thi hành công vụ là để ngăn cản người thi hành công vụ thực hiện công vụ của mình hoặc buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật.

- Tội phạm hoàn thành khi người phạm tội có một trong những hành vi nêu trên để ngăn cản người thi hành công vụ thực hiện công vụ của mình hoặc buộc người thi hành công vụ thực hiện hành vi trái pháp luật. Việc người thi hành công vụ có nghe theo yêu cầu của người phạm tội hay không không có ý nghĩa định tội.

Hành vi chống người thi hành công vụ nếu gây thương tích hoặc làm chết cán bộ thi hành công vụ thì người phạm tội còn có thể bị truy cứu TNHS về các tội phạm tại Chương XII Bộ luật hình sự (tội cố ý gây thương tích, tội giết người…).

- Mặt chủ quan: là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết và nhận thức rõ được hành vi của mình là nhằm mục đích cản trở người thi hành công vụ hoặc cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật mình đang cản trở người thi hành công vụ hoặc cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật. Nếu một người khi thực hiện hành vi mà không biết là đang cản trở người thi hành công vụ hoặc cưỡng ép người thi hành công vụ làm trái pháp luật, có cơ sở chính đáng thì chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng nếu có gây thương tích hoặc chết người.

Vì vậy, xét thấy hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các hành vi khách quan nêu trên là tội phạm đã hoàn thành. Và tội phạm hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện các hành vi chống đối, kháng cự, cưỡng ép người thi hành công vụ thực hiện các hành vi trái pháp luật.

- Chủ thể: bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự theo luật định.

Xem Xét trong trường hợp cụ thể của bạn, thì bạn có cung cấp thông tin bạn là công an xã và đang thực hiện theo kế hoạch của Ủy ban nhân dân xã và ban công an xã thì bị hai đối tượng hành hung phải nhập viện. Như vậy có thể xác định là bạn đang thi hành công vụ, trường hợp ở đây nếu có thể xác định rằng việc hành hung của các đối tượng này được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi hành hung được xác định là hành vi dùng vũ lực này nhằm mục đích cản trở việc thi hành công vụ của bạn thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công thì hoàn toàn có thể khẳng định trong trường hợp này đã cấu thành tội chống người thi hành công vụ. Trường hợp việc hai đối tượng này thực hiện việc hành hung nhưng không nhằm mục đích cản trở thi hành công vụ, mà cố ý hành hung bạn nhằm gây thương tích vì mục đích cá nhân thì hai đối tượng này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo quy định tại Bộ luật hình sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê