1. Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người hay tội giết người ?

Chào luật sư luật Minh Khuê, xin hỏi: Tôi có câu hỏi mong được tư vấn về tội Tội cố ý gây thương tích dẫn đến chết người hay tội giết người ?
Cảm ơn luật sư.

Luật sư tư vấn:

Bộ Luật Hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009 quy định về tội cố ý gây thương tích và tội giết người

“Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

“Điều 93. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết nhiều người;

b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

c) Giết trẻ em;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.”

Để xác định hành vi vi phạm trong trường hợp này cần căn cứ đến yếu tố lỗi và mục đích của hành vi vi phạm. Trân trọng ./.

>> Tham khảo ngay nội dung: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo luật hình sự

2. Quy định của luật hình sự về tội cố ý gây thương tích ?

Xin chào luật sư: mẹ tôi bị đánh gây thương tích dưới 11% có thể xử phạt hình chính đối với người gây thương tích cho mẹ tôi như thế nào. Mẹ tôi đang chăn trâu gần nhà nhưng trâu không ăn cỏ của bà A, bà A tới nói mẹ tôi sao thả trâu ăn hết cỏ nhà bà A, Mẹ tôi trả lời: "ăn bao giờ, ăn ở đâu, có thấy tôi thả trâu ăn cỏ của bà không mà nói ăn cỏ".

Sau đó bà A lao tới, trên tay có một khúc cây dài khoảng 1m và một cái liềm đánh liên tiếp vào người của mẹ tôi, sau đó dùng liềm cắt dứt ngón tay cái bàn tay trái của mẹ tôi, lúc đó tôi xuống hiện trường thì thấy máu chảy nhiều nên tôi đưa mẹ tôi vào bệnh viện cấp cứu khâu bị thương 5 mũi vào tay.

Xin luật sư tư vấn giúp tôi xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo những gì bạn cung cấp, hành vi của bà A hoàn toàn có thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật hình sự. Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định như sau:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Vậy nếu tỷ lệ thương tật của mẹ bạn dưới 11% hoặc không thuộc các trường hợp tại khoản 1 điều 104 BLHS đã nêu trên thì bà A chỉ bị xử lý vi phạm hành chính. Theo điểm e khoản 3 điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì đối với hành vi xâm hại đến sức khỏe người khác thì bị phạt tiền từ 2.000.000 đến 3.000.000 đồng.

Nếu chỉ giải quyết ở cấp xã thì theo khoản 3 điều 39 Luật XLVPHC, trưởng công an xã có thẩm quyền phạt tiền không quá 2.500.000 đồng. và khoản 1 điều 38 Luật XLVPHC Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền phạt tiền không quá 5.000.000 đồng và đó là mức phạt đối với từng tội danh.

Ngoài ra, Điều 609 Bộ luật dân sự 2005 cũng quy định như sau:

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Như vậy, bà A còn phải bồi thường cho mẹ bạn những khoản thiệt hại trên theo đúng quy định pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo ngay: Mức phạt hành chính với tội cố ý gây thương tích?

3. Tội cố ý gây thương tích bị xử lý như thế nào ?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi mong Luật sư tư vấn giúp tôi: chị gái tôi hiện đang làm công nhân tại Bình Dương, vừa qua có 01 công nhân Nam làm cùng công ty đã tập hợp thêm 05 đối tượng phục kích chờ chị gái tôi tan ca lúc hơn 22h tối dùng mã tấu và gập sắt hành hung chị tôi, rất may lúc đó có 1 số công nhân về sau, cùng bảo vệ công ty và 1 số bảo vệ công ty gần đó truy hô nên bọn chúng bỏ chạy ?
Cảm ơn luật sư!

Tội cố ý gây thương tích bị xử lý như thế nào ?

Trả lời:

Bạn của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo điều 104, Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn Luật trực tuyến về tội đánh bạc, cố ý gây thương tích dẫn đến chết người ?

4. Thủ tục khởi kiện hành vi cố ý gây thương tích ?

xin chào luật sư. Tôi có chút vấn đề rất mong được các luật sư giúp đỡ: Vừa qua, gia đình tôi bị 1 đối tượng tới nhà hành hung làm 3 người bị thương nặng và chúng tôi đã khởi kiện đối tượng lên tòa án nhân dân huyện.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 23/4/2015 tuyên bị cáo 9 năm tù và buộc bồi thường cho người bị hại gần 80 triệu đồng tuy nhiên SAU KHI PHIÊN TÒA KẾT THÚC, Bị cáo cũng như gia đình bị cáo không chịu bồi thường cho người bị hại. vậy gia đình chúng tôi PHẢI LÀM GÌ TIẾP THEO để đòi lại công bằng đồng thời trừng trị kẻ phạm pháp.
Rất mong nhận được sự giúp đỡ của các luật sư.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: Mai Trang

Thưa quý khách hàng! Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn quý khách đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Điều 2 Luật thi hành án dân sự 2008 quy định:

“Điều 2. Bản án, quyết định được thi hành

Những bản án, quyết định được thi hành theo Luật này bao gồm:

2. Những bản án, quyết định sau đây của Toà án cấp sơ thẩm được thi hành ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:

a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc;

b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.”

Như vậy, quyết định bồi thường thiệt hại của Tòa án sơ thẩm phải được thi hành ngay theo quy định của pháp luật mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Và bạn có thể yêu cầu người gây thiệt hại bồi thường cho gia đình bạn theo quy định tại Điều 13 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự 2014 như sau:

“13. Sửa đổi, bổ sung Điều 31 như sau:

“Điều 31. Tiếp nhận, từ chối yêu cầu thi hành án

1. Đương sự tự mình hoặc ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng hình thức trực tiếp nộp đơn hoặc trình bày bằng lời nói hoặc gửi đơn qua bưu điện. Người yêu cầu phải nộp bản án, quyết định, tài liệu khác có liên quan.

Ngày yêu cầu thi hành án được tính từ ngày người yêu cầu nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.

2. Đơn yêu cầu phải có các nội dung sau đây:

a) Tên, địa chỉ của người yêu cầu;

b) Tên cơ quan thi hành án dân sự nơi yêu cầu;

c) Tên, địa chỉ của người được thi hành án; người phải thi hành án;

d) Nội dung yêu cầu thi hành án;

đ) Thông tin về tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, nếu có;

e) Ngày, tháng, năm làm đơn;

g) Chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm đơn; trường hợp là pháp nhân thì phải có chữ ký của người đại diện hợp pháp và đóng dấu của pháp nhân, nếu có.

3. Trường hợp người yêu cầu trực tiếp trình bày bằng lời nói thì cơ quan thi hành án dân sự phải lập biên bản có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của người lập biên bản; biên bản này có giá trị như đơn yêu cầu.

4. Khi tiếp nhận yêu cầu thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra nội dung yêu cầu và các tài liệu kèm theo, vào sổ nhận yêu cầu thi hành án và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu.

5. Cơ quan thi hành án dân sự từ chối yêu cầu thi hành án và phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu thi hành án trong các trường hợp sau đây:

a) Người yêu cầu không có quyền yêu cầu thi hành án hoặc nội dung yêu cầu không liên quan đến nội dung của bản án, quyết định; bản án, quyết định không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các đương sự theo quy định của Luật này;

b) Cơ quan thi hành án dân sự được yêu cầu không có thẩm quyền thi hành án;

c) Hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.”

Thủ tục yêu cầu thi hành án quy định tại Điều 32 Luật thi hành án dân sự 2008 như sau:

“Điều 32. Thủ tục gửi đơn yêu cầu thi hành án

1. Người yêu cầu thi hành án tự mình hoặc uỷ quyền cho người khác yêu cầu thi hành án bằng một trong các hình thức sau đây:

a) Nộp đơn hoặc trực tiếp trình bày bằng lời nói tại cơ quan thi hành án dân sự;

b) Gửi đơn qua bưu điện.

2. Ngày gửi đơn yêu cầu thi hành án được tính từ ngày người yêu cầu thi hành án nộp đơn hoặc trình bày trực tiếp tại cơ quan thi hành án dân sự hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi. “

Pháp luật quy định về thời hạn tự nguyện thi hành án tại Điều 19 Luật sửa đổi, bổ sung luật thi hành án dân sự 2014 như sau:

"19. Sửa đổi, bổ sung Điều 45 như sau:

“Điều 45. Thời hạn tự nguyện thi hành án

1. Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.

2. Trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên áp dụng ngay biện pháp quy định tại Chương IV của Luật này.”"

Theo quy định trên, nếu như hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án trốn tránh việc thi hành án thì bạn yêu cầu cơ quan thi hành án thực hiện các biện pháp bảo đảm như sau:

Điều 66. Biện pháp bảo đảm thi hành án

1. Chấp hành viên có quyền tự mình hoặc theo yêu cầu bằng văn bản của đương sự áp dụng ngay biện pháp bảo đảm thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, huỷ hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án. Khi áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, Chấp hành viên không phải thông báo trước cho đương sự.

2. Người yêu cầu Chấp hành viên áp dụng biện pháp bảo đảm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp bảo đảm hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường.

3. Các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm:

a) Phong toả tài khoản;

b) Tạm giữ tài sản, giấy tờ;

c) Tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản.”

Dựa vào những phân tích trên đây, gia đình bạn có thể gửi đơn yêu cầu thi hành án đến cơ quan thi hành án thuộc Tòa án đã giải quyết việc khởi kiện cho gia đình bạn. Cơ quan thi hành án sẽ thực hiện yêu cầu phía bên gây thiệt hại thi hành án và áp dụng những biện pháp cần thiết trong việc thi bản án, quyết định của Tòa Án.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162Chúng tôi sẵn sàng giải đáp. Trân trọng!

>> Xem thêm nội dung sau: Thỏa thuận về bồi thường khi cố ý gây thương tích như thế nào ?

5. Mẫu đơn tố cáo về hành vi cố ý gây thương tích mới nhất:

Công ty Luật Minh Khuê cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật Hình sự; trong quá trình tư vấn chúng tôi nhận được khá nhiều yêu cầu của khách hàng về việc soạn đơn tố cáo để kiện tội cố ý gây thương tích. Sau đây chúng tôi xin cung cấp mẫu đơn tố cáo hành vi cố ý gây thương tích:

Mẫu đơn tố cáo về hành vi cố ý gây thương tích 2018

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến về hành vi gây thương tích, gọi: 1900.6162

------------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

.........., ngày ......tháng......năm.............

ĐƠN TỐ CÁO

(Về hành vi cố ý gây thương tích)

Kính gửi: CÔNG AN NHÂN DÂN QUẬN/HUYỆN…………………………………………….…

VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN/HUYỆN………………………………………

Họ và tên tôi: ……………………………….…… Sinh ngày: …………………….…………………..

Chứng minh nhân dân số: ………………………………………………………………………………

Ngày cấp: …./…../……. Nơi cấp: Công an tỉnh………….

Hộ khẩu thường trú: ……………………………….……………………………………………………..

Chỗ ở hiện tại: …………………………………………………………………………………………….

Tôi làm đơn này tố cáo và đề nghị Quý cơ quan tiến hành điều tra, khởi tố hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật

của:

Ông/bà: …………………………………………...Sinh ngày: ………………………………………..……..

Chứng minh nhân dân số: ………………………………………………………….…………………….

Ngày cấp: ………………………………………Nơi cấp: …………………………..………………….

Hộ khẩu thường trú: …………………………………………….………………………………………..

Chỗ ở hiện tại: ……………………………………………………………………………………………

Vì ông/bà................................................đã có hành vi cố ý gây thương tích cho tôi.

Cụ thể sự việc như sau:

……………………………………………………………………………………………….………………

……………………………………………………………………………………………….………………

…………………………………………………………………………………………………….…………

……………………………………………………………………………………………….………………

........................................................................................................................................................

Từ những sự việc trên, tôi nhận thấy ông/bà…………………..…….. đã có hành vi cố ý gây thương tích cho tôi

Hậu quả là tôi phải khâu 30 mũi trên đầu, tay bị đứt một ngón. Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của mình, nay

tôi viết đơn này kính đề nghị quý cơ quan giải quyết những yêu cầu sau:

- Tiến hành giám định tỷ lệ thương tật với những vết thương mà ông/bà....................................gây ra

- Xác minh và khởi tố vụ án hình sự để điều tra, đưa ra truy tố, xét xử ông/bà....................................... về hành

vi cố ý gây thương tích

- Buộc ông/bà..................................................phải bồi thường thiệt hại do xâm phạm sức khỏe của tôi

Tôi cam kết toàn bộ nội dung đã trình bày trên là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật

về những điều trình bày trên.

Kính mong được xem xét và giải quyết. Xin chân thành cảm ơn.

Người tố cáo

(ký và ghi rõ họ tên)

6. Hình phạt tù đối với hành vi cố ý gây thương tích như thế nào ?

Thưa luật sư, cách đây 2 ngày em trai của em với nhóm bạn trên đường đi chơi về bị 1 nhóm thanh niên cầm mã tấu chặn đường gây chuyện, em trai của em có ra tay đánh trước nhưng không ai bị thương, sau đó em trai em bị 2,3 người trong nhóm đó đánh lại và em của em nằm dưới đất không chống cự được thì lúc đó bạn của em trai em có cầm cục gạch đánh vào đầu người đánh em của em để giải vây.
Hậu quả là người đó bị chấn thương ở đầu và phải mổ, hiện tại em chưa biết người đó bị thương tích lá bao nhiêu %, em trai của em đã phạm tội 2 lần và bị công an nhắc nhở,còn người bạn của em trai em mới phạm tội lần đầu, vậy thưa luật sư em trai em và người bạn của em có bị truy tố trách nhiệm hình sự không, nếu có thì mức án bao nhiêu lâu ?
Em xin chân thành cám ơn và rất mong sự phán hồi của từ quý luật sư !

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trong tình huống này, mâu thuẫn phát sinh từ phía nhóm thanh niên cầm mã tấu chặn đánh em trai bạn nhưng họ chưa thực hiện bất kỳ hành vi gây thương tích nào cho em bạn mà em bạn lại là người chủ động gây thương tích cho họ. Bên cạnh đó, hành vi của người bạn em bạn không phải là sự phòng vệ. Do vậy, em trai bạn và người bạn này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích. Cụ thể:

Đối với em trai bạn:

Hành vi gây thương tích sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009 ) như sau:

" Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Tuy nhiên, hành vi gây thương tích của em trai bạn không gây ra thiệt hại vì vậy, em bạn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với bạn của em trai bạn:

Hành vi gây thương tích của bạn em trai bạn không phải là hành vi phòng vệ. Theo đó, Việc gây thương tích vào bộ phận trọng yếu của cơ thể là đầu có thể gây nguy hiểm tới tính mạng của người bị thương tích có thể là căn cứ cấu thành tội vô ý làm chết người. Tuy nhiên, hành vi không liên tục của người bạn này có thể thấy ý thức chủ quan chỉ là bảo vệ tính mạng cho em trai bạn. Do vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bạn này được áp dụng theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự nêu trên.

Về việc quyết định hình phạt tù:

Việc quyết định hình phạt tù đối với bạn của em trai bạn còn phụ thuộc vào tỷ lệ thương tật của người bị hại, các tình tiết giảm nhẹ đối với bạn ấy. Việc sử dụng gạch được xác định là phương tiện nguy hiểm. Vì vậy, người bạn này sẽ bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 104 BLHS. Theo đó, bạn của em trai bạn nên cung cấp những căn cứ có lợi để tòa án xem xét việc áp dụng hình phạt tù nhẹ hơn mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Cố ý gây thương tích sẽ bị xử phạt như thế nào theo Luật hình sự mới ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn Pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê