Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Hình sự năm 1999 Sửa đổi, bổ sung năm 2009

II. Nội dung tư vấn

Theo quy định tại khoản 1 Điều 140 BLHS:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

I. Dấu hiệu cấu thành tội phạm

1. Chủ thể

 Căn cứ theo quy định tại Điều 12 BLHS về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, theo đó:

- Người phạm tội theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 140 BLHS thì người phạm tội từ đủ 16 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

- Người phạm tội theo quy định tại khoản 3, khoản 4 Điều 140 BLHS thì người phạm tội từ đủ 14 tuổi trở lên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.

2. Khách thể

Hành vi của người phạm tội xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

3. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan:

- Việc dịch chuyển tài sản giữa hai bên thông qua một hợp đồng dân sự hợp pháp (vay, mượn, thuế tài sản)

- Sau khi có được tài sản từ hình thức hợp đồng thì nảy sinh hành vi chiếm đoạt tài sản thông qua việc dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để trốn tránh việc trả lại tài sản đó; Sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại.

Hậu quả:

Lưu ý: Thủ đoạn gian dối ở đây được sử dụng nhằm mục đích trốn tránh việc trả lại tài sản đã được dịch chuyển thông qua một hợp đồng hợp pháp, nội dung phân biệt với dấu hiệu "thủ đoạn gian dối" được mô tả trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tức dùng thủ đoạn này để nhằm mục đích có được tài sản đó.

Dấu hiệu khác: giá trị tài sản phải từ bốn triệu đồng trở lên hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì mới cấu thành tội này.

4. Mặt chủ quan của tội phạm

- Lỗi: cố ý

- Mục đích: chiếm đoạt tài sản của người khác

II. Hình phạt

Căn cứ theo quy định tại Điều 140 BLHS, hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

- Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 4 triệu đồng đến dưới 50 triệu hoặc dưới 4 triệu nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; dùng thủ đoạn xảo quyệt; chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; tái phạm nguy hiểm; gây hậu quả nghiêm trọng sẽ bị phạt từ 2 đến 7 năm tù.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: giá trị tài sản từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; gây hậu quả rất nghiêm trọng sẽ bị phạt tù từ 7 đến 15 năm tù.

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: giá trị tài sản từ 500 triệu đồng trở lên, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng sẽ bị phạt tù từ 12 đến 20 năm hoặc tù chung thân.

Thưa luật sư, Tôi muốn Luật sư tư vấn 1 việc như sau: Tôi có người bạn cũng thân, hiện đang công tác trong ngành công an, trong lúc khó khăn người bạn này nhờ tôi đứng ra bảo lãnh mượn tiền dùm, vì tin tưởng bạn nên tôi đã đứng ra bảo lãnh mượn 20 triệu để bạn giải quyết khó khăn. Giờ tới ngày trả tiền nhưng mà bạn đó trốn tránh tôi hoài..bạn đó còn thách tôi đi thưa nữa. Thưa luật sư, giờ em phải làm thế nào?

 Trong trường hợp này, bạn là người đứng ra bảo lãnh việc trả nợ cho người bạn đó mượn tiền. Do đó, nếu đến thời hạn trả mà người này không trả hoặc không có khả năng trả tiền thì bạn phải thực hiện thay nghĩa vụ này với người có tiền cho vay. Theo đó, người bạn này có trách nhiệm trả lại số tiền đó cho bạn. Trong trường hợp người này không trả lại tiền thì bạn có quyền tố cáo với cơ quan công an về hành vi của người này về "tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

Chào a. E đang là học viên của 1 cty tiếng Nhật. Cách đây khoảng 1 tháng thì có 1 bạn học cùng cty mượn xe của e, và còn mượn thêm giấy tờ xe nữa. Nhưng sau 2 ngày thì bạn ấy cầm xe của e và hẹn sẽ trả. Nhưng sau mấy ngày thì xe của e chưa lấy đc, còn bạn đó thì không liên lạc đc nữa. E có gọi điện về gia đình, nhưng gia đình chỉ đồng ý đền cho e 13 triệu. Trong khi đó xe e là Exiter đời 2013. Vậy e báo lên công an thì sẽ giải quyết như thế nào?

Trong trường hợp này, việc người bạn này thông qua việc mượn xe của bạn và hiện tại đã bỏ trốn để trốn tránh việc trả lại xe. Do đó, hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Sau khi bạn đã báo cáo với cơ quan công an để được giải quyết thì cơ quan công an sẽ tiến hành điều tra và tòa án có thể ra quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người này theo hình phạt đã nêu ở trên. 

Chào luật sư Gia đình em có nhờ người đứng ra lo việc cho em của em vào nghành công an, thời gian cũng đã hơn 01 năm rồi mà công việc vẫn không có. Nay nhà em muốn lấy lại tiền và không lo việc nữa. Nhưng người lo việc cho gia đình em cứ hứa đi hứa lại nhiều lần mà vẫn chưa trả tiến cho gia đình em, người lo việc cho gia đình em là một trung tá công an . Mong luật sư tư vấn thủ tục và cách giải quyết. Xin cảm ơn .

 Theo thông tin mà bạn cung cấp, gia đình bạn đã đưa cho người này một sô tiền với điều kiện người này sẽ lo cho bạn một công việc. Tuy nhiên, giao dịch này không thể thực hiện được do người kia không thể lo công việc cho bạn. Căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự, nếu hợp đồng dân sự có đối tượng không thể thực hiện được do đó hợp đồng này vô hiệu. Theo quy định của pháp luật dân sự, nếu hợp đồng dân sự vô hiệu thì các bên sẽ phải trả lại cho nhau những gì đã nhận. Như vậy, nếu người đó không trả lại số tiền trên cho bạn thì bạn có thể khởi kiện để yêu cầu tòa án giải quyết. Tuy nhiên, bạn cũng cần lưu ý nếu giao dịch giữa gia đình bạn với người kia (trung tá công an) để lo việc cho bạn được xác định là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để nhận khoản tiền này thì hành vi của người này có thể cấu thành tội nhận hối lộ và hành vi của gia đình bạn sẽ cấu thành tội đưa hối lộ và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.