Sự việc đau lòng này làm anh em ruột trong gia đình nghi ngờ, đố kỵ lẫn nhau, và hậu quả là dùng dao đánh nhau gây đổ máu. Sự việc trên có công an phuờng chứng kiến và phạt tiền 1,5 triệu về tội gây rối trật tự nhưng không có biện pháp răn đe. Vậy tôi xin hỏi truờng hợp trên thì tôi có thể làm đơn tố cáo người em dâu kia về tội làm nhục và vu khống người khác được không, và nếu gởi đơn thì gởi lên công an quận hay là công An phường? Hàng xóm kế bên nhà đều nghe và thấy, xin hỏi có cần xác nhận của hàng xóm vào đơn thưa không ạ? Xin cám ơn luật sư

Người gửi: T.T

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Tội làm nhục,vu khống người khác ?

Luật sư tư vấn hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục tư vấn của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự 1999

- Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009

- Bộ Luật dân sự năm 2005

Nội dung phân tích:

Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là một trong những quyền nhân thân của cá nhân. Ðiều 37 Bộ luật Dân sự quy định: Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

Người nào có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác có thể bị phạt vi phạm hành chính (theo điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội, phòng chống tệ nạn xã hội, phòng cháy và chữa cháy, phòng, chống bạo lực gia đình). Thậm chí, người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác quy định tại Điều 121 Bộ luật Hình sự:

"Điều 121.  Tội làm nhục người khác 

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm"

Với hành vi sai trái của người em này, chị hoàn toàn có quyền trình báo với cơ quan công an để yêu cầu điều tra và khởi tố vụ án đối với hành vi vi phạm trên.

Ngoài ra thì theo như thông tin chị cung cấp, nếu chị và người em chồng thực sự không có mối quan hệ bất chính thì người vợ này còn có thể phạm phải tội danh vu khống người khác theo quy định tại điều 122 BLHS:

"Điều 122.  Tội vu khống 

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Đơn của chị gửi tại công an quận. Việc có phải thêm xác nhận của hàng xóm vào đơn hay không thì luật không quy định, tức là không cần thiết. Tuy nhiên, chị vẫn có thể xin xác nhận của hàng xóm để tăng tính xác thực cho vấn đề chị bị nhục mạ, vu khống.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ.