Tôi đồng ý cho mượn một tháng không có làm biên nhận và cũng không tính lãi. Đến một tháng tôi đòi tiền lại thì đồng nghiệp tôi nói người bạn chưa đưa lại tiền. Tôi yêu cầu đồng nghiệp viết giấy biên nhận thì đồng nghiệp tôi né tránh nói rằng tôi là ân nhân nên không cần phải lo lắng. Sau đó đồng nghiệp tôi nói đang làm thủ tục vay tiền nên mượn tôi 4,8 triệu làm chi phí đi lại không có làm biên nhận. Ngày 24/3 đồng nghiệp tôi đưa cho tôi 1.250.000đ gọi là tiền lãi và viết biên nhận 37 triệu mà tháng 1 tôi đã cho mượn. Đồng nghiệp tôi tên Hiếu cũng hỏi mượn cô Thắm cùng phòng 7 triệu đồng để mở quán nhậu hồi tháng 2/2015 không có làm biên nhận. Tháng 1/2015, Hiếu mượn cô Hồng cùng phòng 10 triệu để mở quán cà phê. Nể tình đồng nghiệp cô Hồng cho mượn 1 tháng không tính lãi và cũng không làm biên nhận. Hiếu cũng nhờ cô Hồng mua giúp điện thoại Lumia mà Hiếu đang sử dụng với giá 2,2 triệu và cô Hồng đã đồng ý mua, đưa đủ 2,2 triệu cho Hiếu. Hiếu hẹn hôm sau giao điện thoại vì cần giữ liên lạc với người nào đó và được cô Hồng đồng ý. Hôm sau vào cơ quan cô Hồng hỏi điện thoại thì Hiếu nói cho cô em vợ của Hiếu mượn xài đỡ vài ngày. Cô Hồng đến ngày sinh đẻ nên không vào cơ quan nhưng cũng gọi điện hỏi Hiếu về chiếc điện thoại Lumia, Hiếu nói sẽ gửi cho đồng nghiệp khác.

Thời gian này Hiếu đưa cho cô Thắm 200.000đ gọi là tiền lãi, cũng gửi cho cô Hồng 500.000đ. Lúc bấy giờ Hiếu viết nguệch ngoạc lá đơn xin nghĩ việc gửi lại cơ quan và cô Thắm biết được sự việc nên đòi tiền thì Hiếu đề nghị Thắm làm hợp đồng vay tài sản 17 triệu đồng. Bao gồm 10 triệu của cô Hồng vào chung hợp đồng. Ngay sau khi ký hợp đồng thì Hiếu trốn khỏi cơ quan, các số đều không liên lạc được ngay cả số 0939903xxx mà Hiếu đã đăng ký với cơ quan trước đây. Tôi đã đến nhà Hiếu thì biết Hiếu đã bỏ đi, nhà Hiếu đóng cửa. Hỏi thăm khắp nơi biết được Hiếu không có mở quán cơm, quán nhậu hay quán cafê gì hết. Chúng tôi tìm đủ mọi cách nhưng không liên lạc được với Hiếu.

Xin hỏi luật sư, chúng tôi có thể tố cáo Hiếu về tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được không? Hay là tố cáo tội lừa đảo?

Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: D.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay tội lừa đảo ? 

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Cơ sở pháp lý: 

Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi 2009

Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11

2. Nội dung phân tích:

Điều 139 BLHS quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 140 quy định về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

Điều 140.  Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.

Như vậy, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đều có thủ đoạn "gian dối", người bị hại đều có hành vi tự nguyện giao tài sản. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện thủ đoạn gian dối là khác nhau:

- Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139): Thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản. (Xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt). Do đó, nếu Hiếu có mục đích lừa đảo bạn và các đồng nghiệp ngay từ ban đầu, đồng thời dùng các thủ đoạn gian dối (vay tiền nhằm mở quán cơm, quán cà phê...) thì Hiếu phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Đối với tội lạm dụng tín nhiệm (Điều 140): Việc giao và nhận hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê..) và sự tín nhiệm (người quen biết..). Sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc đánh tráo, hoặc gian dối là bị mất…Không trả lại tài sản do không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục đích bất hợp pháp như đánh bạc, cầm đồ… Như vậy, việc bạn và các đồng nghiệp cho Hiếu vay tiền, mượn xe là dựa trên cơ sở hợp đồng và sự ttin tưởng Hiếu (vì cùng là đồng nghiệp nên không viết giấy vay nợ...). Sau khi không có khả năng trả nợ thì Hiếu đã bỏ trốn. Do đó, theo các thông tin vừa phân tích và nếu Hiếu thỏa mãn dấu hiệu mục đích phạm tội và hậu quả xảy ra (vay, mượn được tiền, tài sản dẫn đến khả năng không trả được thì mới bỏ trốn) thì Hiếu phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp này, Hiếu đã rất nhiều lần vay tiền của đồng nghiệp, đồng thời sau khi đồng nghiệp đề nghị viết giấy vay nợ thì Hiếu cũng đã viết các loại giấy này, trả lãi (dù rất ít) cho đồng nghiệp, chỉ đến khi không còn khả năng trả nợ thì Hiếu mới bỏ trốn. Do đó có thể xác định Hiếu phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo Điều 140 BLHS.

Để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, bạn nên làm đơn tố giác tội phạm theo quy định tại Điều 25 và Điều 101 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003:

Điều 25. Trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

1. Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.

2. Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm tạo điều kiện để các tổ chức và công dân tham gia tố tụng hình sự; phải trả lời kết quả giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm cho tổ chức đã báo tin, người đã tố giác tội phạm biết.

3. Các tổ chức, công dân có trách nhiệm thực hiện yêu cầu và tạo điều kiện để cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ.

 Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự : 1900.6162 .

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê