Điều 142, luật hình sự năm 1999 quy định về tội sử dụng trái phép tài sản :

1. Người nào vì vụ lợi mà sử dụng trái phép tài sản của người khác có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

d) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội gây hậu qủa đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.1940

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi:  - 1900.1940

PHÂN TÍCH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LIÊ QUAN ĐẾN TỘI SỬ DỤNG TRÁI PHÉP TÀI SẢN:

Thực tiễn áp dụng điều luật này vào việc giải quyết các vụ án hình sự có rất nhiều hạn chế, bất cập, nhiều đối tượng đã lợi dụng “lách luật” chiếm đoạt tài sản của người khác gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Tuy nhiên các cơ quan bảo vệ pháp luật không xử lý được vì không xác định được ý thức chủ quan của các đối tượng thông qua các hành vi khách quan đó là: gian dối, bỏ trốn, sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, thông qua vụ án sau sẽ làm rõ vấn đề này:

Khoảng 14 giờ, ngày 15/7/2011 Trần Văn K đến gặp anh Nguyễn Văn L đặt vấn đề thuê chiếc xe ô tô loại INOVA BKS 89M- 4527 sử dụng đi lại, Trần Văn K đã thỏa thuận với anh L thuê xe trong 3 ngày, mỗi ngày K phải trả cho anh L là 1.000.000 đồng (K đã thanh toán hết 3 triệu đồng tiền thuê xe cho L). Sau khi nhận xe và toàn bộ giấy tờ xe, K đã sử dụng xe để đi lại phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Đến ngày thứ hai Trần Văn K đã nảy sinh ý định mang xe của anh L đi cầm cố lấy tiền ăn tiêu và trả nợ, vì vậy K đã mang xe đến hiệu cầm đồ và cầm cho anh Nguyễn Văn H là chủ của hàng cầm đồ lấy số tiền là 120.000.000 đồng, K thỏa thuận với anh H sau 10 ngày sẽ đến chuộc xe. Trần Văn K đã sử dụng số tiền này trả nợ cho anh Đinh Khắc T (anh em đồng hao với K) hết 115.000.000 đồng, số tiền còn lại K sử dụng vào việc ăn tiêu hết. Sau 3 ngày, anh L không thấy K mang xe đến trả như đã thỏa thuận nên đã đến gặp K để đòi xe, K đã nói với anh L xe đã cầm cố và hứa với anh L sẽ chuộc về trả lại cho anh. Tuy nhiên, do K không có tiền chuộc xe như đã thỏa thuận nên anh Nguyễn Văn H (chủ hiệu cầm đồ) đã thanh lý và bán xe cho người khác. Thấy vậy anh L đã làm đơn tố cáo Trần Văn K gửi Cơ quan điều tra đề nghị giải quyết. Qua định giá kết luận chiếc xe ô tô của anh L trị giá 310.000.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra K khai nhận không có ý định chiếm đoạt tài sản của anh L, chỉ vì K không có tiền trả nợ nên mới cầm cố xe lấy tiền trả nợ (tài liệu điều tra xác định K có trả nợ anh T 115.000.000 đồng), tại thời điểm Cơ quan điều tra ghi lời khai, K vẫn chấp hành nghiêm chỉnh, không trốn tránh. Đến ngày 4/9/2011 Cơ quan điều tra xác minh K vắng mặt tại địa phương, không rõ K đi đâu làm gì.

Quan điểm của Cơ quan cảnh sát điều tra thì hành vi của  Trần Văn K đã phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo quy định tại Điều 140 khoản 3 Bộ luật hình sự bởi: Trần Văn K có hành vi thuê ô tô của anh L trị giá 310.000.000 đồng, sau đó K đã gian dối, mang tài sản đi cầm cố lấy 120.000.000 đồng trả nợ và ăn tiêu dẫn đến không chuộc xe trả cho anh L và bỏ trốn khỏi địa phương. Hành vi đã thỏa mãn cấu thành cơ bản quy định tại điểm a khoản 1 điều 140 BLHS.

Tuy nhiên khi hồ sơ vụ việc chuyển sang Viện kiểm sát để nghiên cứu thì quan điểm lại trái ngược hoàn toàn với Cơ quan điều tra, quan điểm đó cho rằng: Tại Điều 140 khoản 1 BLHS đã quy định: Chỉ “Người nào có một trong những hành vi: Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;...  sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.” thì mới cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trong vụ án này đối với Trần Văn K sau khi nhận được tài sản (xe ô tô) K không có hành vi gian dối, không sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp, đặc biệt là K không bỏ trốn, bởi lẽ ngay từ ban đầu K đã đến Cơ quan điều tra khai báo toàn bộ hành vi của mình và hứa sẽ chuộc xe trả cho anh L. Hành vi của Trần Văn K không cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như đề nghị của Cơ quan điều tra, mà hành vi của K chỉ vi phạm nghĩa vụ sử dụng tài sản thuê không đúng mục đích, đây là quan hệ dân sự thuộc sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Vì vậy vụ việc cần chuyển đến Tòa án nhân dân để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Thực tiễn đã xảy ra rất nhiều các vụ việc tương tự, các đối tượng che đậy hành vi gian dối của mình, Cơ quan bảo vệ pháp luật không xác định được các đối tượng có hành vi gian dối, sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp, hay đối tượng bỏ trốn nên đã cho rằng đó là quan hệ dân sự, nếu xử lý hình sự vô hình chung đã hình sự hóa một quan hệ dân sự. Bản chất của các vụ việc này là các đối tượng đã “lách luật”, mang tài sản đi cầm cố lấy tiền trả nợ và ăn tiêu nhưng sau đó đã cố tình chây ỳ không trả tài sản nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân.

Xảy ra tình trạng này là do Điều 140 BLHS quy định rất cụ thể chỉ những trường hợp các đối tượng dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn;...  sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.” thì mới cấu thành tội phạm. Tuy nhiên từ khi Bộ luật hình sự có hiệu lực thi hành cho đến nay chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào hướng dẫn thi hành điều luật. Khái niệm gian dối, bỏ trốn, sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp được quy định cụ thể trong điều luật nhưng lại  rất rộng về ngữ nghĩa dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau về các khái niệm này. Theo chúng tôi cần phải xác định một người nào đó có hành vi vay, mượn thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng sau đó đã sử dụng không đúng mục đích như mang đi cầm cố, bán, thế chấp... thì phải được coi đó là hành vi gian dối và người nào vắng mặt tại địa phương, gia đình, chính quyền địa phương không biết đi đâu, làm gì, ở đâu bất kể thời gian nào thì cũng được coi là bỏ trốn.

Để tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn nêu trên, đồng thời có căn cứ pháp lý để đấu tranh với các loại tội phạm này nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân giữ nghiêm kỷ cương pháp luật. Chúng tôi đề nghị các cơ quan tư pháp ở Trung ương cần kịp thời ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng Điều 140 Bộ luật hình sự, theo đó cần hướng dẫn rõ như thế nào được coi là thủ đoạn gian dối, trường hợp nào được coi là bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản và thế nào là sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp./.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ hoặc tư vấn luật: 1900.1940

Gửi thư tư vấn pháp luật miễn phí qua Email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!
Trân trọng./.

BỘ PHẬN TRANH TỤNG - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ

----------------------------------------------- 

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN: