Điều 171, luật hình sự năm 1999 quy định, tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp 

1. Người nào vì mục đích kinh doanh mà chiếm đoạt, sử dụng bất hợp pháp sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, tên gọi, xuất xứ hàng hoá hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác đang được bảo hộ tại Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009 điều chỉnh một số nội dung trong điều 171, luật hình sự năm 1999 cụ thể như sau:

Điều 171 được sửa đổi, bổ sung như sau:

“Điều 171. Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến gọi: - 1900 6162

----------------------------------------------------------------------------

PHÂN TÍCH & BÌNH LUẬN VỀ TỘI DANH XÂM PHẠM QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP.

 Điều 171 BLHSnăm 1999 chưa sửa đổi, bổ sung quy định chỉ xử lý hình sựđối với hành vi xâm phạm quyền SHCN trong trường hợp hành vi này thực hiện vì mục đích kinh doanh và gây hậu quả nghiêm trọng hoặc người vi phạm đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án mà còn vi phạm. Tuy nhiên, theo yêu cầu của Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) và TRIPS thì các nước thành viên có nghĩa vụ quy định việc áp dụng các thủ tục hình sự và các hình phạt để áp dùng ít nhất đối với các trường hợp cố ýlàmgiả nhãn hiệu hàng hoá nhằm mục đích thương mại (BTA) hoặc cố ý giả mạo nhãn hiệu hàng hoá với quy mô thương mại (TRIPS). Yếu tố quy mô thương mại chưa được giải thích một cách chính thức tại một chuẩn mực quốc tế nào, tuy nhiên, như đã nói trên, quy mô thương mại cóthể được hiểu là nhằm mục đích kinh doanh và hàng hoá vi phạm được đưa ra thị trường với số lượng lớn hoặc người vi phạm thu lời bất chính lớn từ việc kinh doanh này. Nếu hiểu được như thế thì yếu tố quy mô thương mại đã bao gồm cả mục đích thương mại.Đồng thời, xuất phát từ quan điểm việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ chủ yếu được thực hiện bằng các biện pháp pháp luật dân sự và hành chính, còn biện pháp hình sự chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp, trong trường hợp thật cần thiết khi vi phạm có tính chất, mức độ nguy hiểm cao cho xã hội, quy mô vi phạm xảy ra lớn, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã sửa đổi cấu thành của tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp (Điều 171 BLHS) theo hướng thu hẹp đáng kể phạm vi xử lý về hình sự đối với hành vi xâm phạm quyền SHCN cả về đối tượng SHCN lẫn tính chất, mức độ và quy mô vi phạm. Cụ thể, chỉ xử lý về hình sự hành vi cố ý xâm phạm quyền SHCN đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý với quy mô thương mại; trường hợp vi phạm chưa thuộc phạm vi "quy mô thương mại" thì áp dụng các biện pháp dân sự, hành chính để xử lý. Như vậy, các hành vi phạm tội xâm phạm quyền SHCN đối với sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp hoặc các đối tượng sở hữu công nghiệp khác (ngoài nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý) theo quy định tại Điều 171 BLHS năm 1999 đã được phi hình sự hoá để xử lý bằng các biện pháp khác.

Ngoài ra, Điều 14 của BTA và Điều 61 của TRIPS yêu cầu các nước thành viên phải quy định các hình phạt tù hoặc phạt tiền hoặc cả hai đủ để ngăn ngừa các hành vi xâm phạm quyền SHCN, phù hợp với mức hình phạt áp dụng đối với tội danh có mức độ nghiêm trọng tương ứng. Do đó, để đáp ứng yêu cầu nói trên và xem xét đến những thiệt hại kinh tế mà hành vi xâm phạm quyền SHCN có thể gây ra, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS đã tăng mức phạt tiền tại khoản 1 và khoản 3 và bổ sung phạt tiền vào khoản 2 Điều 171 BLHS.
Tuy đã sửa đổi, bổ sung nhưng quá trình nhận định, đánh giá những quy định của Điều 171 BLHS vẫn còn gặp những khó khăn, vướng mắc cần phải nhanh chóng khắc phục:

Thứ nhất, khó khăn trong việc xác định “quy mô thương mại”. Hiện nay, khái niệm này vẫn chưa được quy định trong BLHS, cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành. Vì vậy, khi vận dụng các quy định của Điều 171, các cơ quan tiến hành tố tụng khó có thể áp dụng thống nhất và dẫn đến tình trạng mỗi cơ quan hiểu nội hàm của khái niệm “quy mô thương mại” theo những cách khác nhau.
Thứ hai, về quy định tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp và các tội về sản xuất, buôn bán hàng giả(Điều 156: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 157: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Điều 158: Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng trong chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi). Các quy định pháp luật hình sự hiện hành chưa làm rõ được sự khác biệt giữa tội xâm phạm quyền SHCN và tội sản xuất và buôn bán hàng giả, trong đó, vấn đề mấu chốt là chưa quy định sự khác biệt giữa hàng giả và hàng xâm phạm quyền SHCN.

Theo Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT ngày 27/4/2000 của Bộ thương mại, Tài chính, Công an, Khoa học Công nghệ và Môi trường hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đấu tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng giả gồm có: Hàng giả về nội dung (giả về chất lượng hoặc công dụng) thường là những hàng hoá không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng với tên gọi, công dụng của nó, không đảm bảo tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm đã được quy định; Hàng giả về hình thức là hàng giả về nhãn hiệu hàng hoá, kiểu dáng công nghiệp, nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa; Hàng giả cả về nội dung và hình thức.Mặc dù không có quy định cụ thể, tuy nhiên có thể hiểu hàng xâm phạm quyền SHCN là hàng có được từ những hành vi sử dụng trái phép các đối tượng của quyền SHCN (nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý).Rõ ràng, quy định của pháp luật hiện hành về hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp có một bộ phận trùng nhau. Đó là trường hợp hàng giả về hình thức và hàng xâm phạm quyền sở hữu SHCN đối với nhãn hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý.Việc áp dụng tội danh nào ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người phạm tội và cả chủ sở hữu đối tượng SHCN.Nếu nhầm lẫn giữa hai điều luật này vô cùng nguy hiểm, có thể dẫn đến hệ quả là tăng hình phạt cho người phạm tội hoặc giảm nhẹ hình phạt cho người phạm tội. Thực tiễn cho thấy, mặc dù trong nhiều trường hợp, hành vi thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành của tội xâm phạm quyền SHCN nhưng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lại truy tố, xét xử theo tội sản xuất, buôn bán hàng giả. Hoặc ngược lại, hành vi đã thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành của các tội sản xuất, buôn bán hàng giả nhưng chỉ bị xử lý theo tội xâm phạm quyền SHCN.

Thứ ba, BLHSchỉ cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cá nhân vi phạm pháp luật hình sự mà chưa quy định đối với pháp nhân. Trong khi đó, chủ thể thực hiện các hành vi xâm phạm quyền SHCN thường do các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân nên trong quá trình giải quyết vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều khó khăn, không thể xử lý hình sự đối với doanh nghiệp thực hiện hành vi vi phạm được.

Thứ tư,Khoản 1, Điều 105, BLTTHS năm 2003 quy định: “Những vụ án về các tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”. Như vậy, các hành vi xâm phạm quyền SHCN tuy đã đủ các yếu tố cấu thành tội phạm nhưng chỉ bị khởi tố khi có yêu cầu của chủ sở hữu đối tượng SHCN. Lợi dụng quy định này, các đối tượng thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHCN khi bị phát hiện thì sử dụng thủ đoạn thỏa thuận, mua chuộc các chủ sở hữu đối tượng SHCN để họ không yêu cầu khởi tố vụ án. Điều này đã tạo ra tâm lý ức chế cho các cán bộ đã tiến hành phát hiện, điều tra, khám phá các hành vi trên, đồng thời không đảm bảo tính răn đe của pháp luật. Ngoài ra, trong thực tế có nhiều trường hợp không thể xử lý hình sự các hành vi xâm phạm quyền SHCN đối với các nhãn hiệu nổi tiếng do các chủ các nhãn hiệu này không có văn phòng đại diện ở Việt Nam, khó khăn trong việc liên lạc với chủ sở hữu hợp pháp của các nhãn hiệu này.

Để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong quá trình áp dụng Điều 171 Bộ luật hình sự, cần tiến hành các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần quy định rõ nội hàm của cụm từ “quy mô thương mại” để các cơ quan tiến hành tố tụng có thể áp dụng một cạch thống nhất.Khái niệm xâm phạm với “quy mô thương mại” là một khái niệm được TRIPs và HĐTM sử dụng.“Quy mô thương mại” (commercial scale) là cụm từ được Điều 61 của TRIPs sử dụng.“Quy mô thương mại” có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau và được diễn giải bởi các quốc gia để bao gồm các hành vi khác nhau. Nhìn chung xâm phạm với “quy mô thương mại” nên được hiểu là các hành vi được thực hiện một các có chủ ý nhằm mục đích sinh lợi, không kể giá trị của vi phạm;hoặc những hành vi tuy không nhằm mục tiêu sinh lợi nhưng gây ảnh hưởng lớn đến quyền khai thác tài sản trí tuệ của chủ thể quyền.

Thứ hai, ban hành thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT-BTM-BTC-BCA-BKHCNMT cho phù hợp với những quy định mới của Bộ luật hình sự và Luật sở hữu trí tuệ, giải quyết việc trùng lẫn giữa phạm vi điều chỉnh của Điều 156,157, 158 và Điều 171 đối với hàng hóa giả mạo nhãn hiệu. Cần phải phân định rạch ròi hai tội danh vì hai tội danh này rất khác nhau về thủ tục tố tụng và mức hình phạt. Về thủ tục tố tụng, nếu xác định người phạm tội thực hiện hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, về nguyên tắc, cơ quan chức năng có quyền tiến hành khởi tố vụ án hình sự ngay sau khi phát hiện ra hành vi phạm tội và yêu cầu chủ sở hữu đối tượng SHCN tham gia tố tụng với tư cách là người bị hại. Còn nếu xác định ngừơi phạm tội đã thực hiện hành vi xâm phạm quyền SHCN, theo Khoản Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự, các cơ quan chức năng chỉ có thể khởi tố vụ án khi có yêu cầu từ phía chủ sở hữu đối tượng SHCN. Về mức hình phạt, nếu người phạm tội bị xử lý theocác tội sản xuất và buôn bán hàng giả, mức hình phạt cao nhất là tử hình (khoản 4 Đ157); trong khi đó nếu bị xử lý theo tội xâm phạm quyền SHCN, mức hình phạt tù cao nhất chỉ là 3 năm tù giam.

Thứ ba, thiết lập chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân nhằm xử lý về mặt hình sự các hành vixâm phạm quyền SHCN của các doanh nghiệp trong điều kiện hiện nay. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với việc thực thi các quy định của Điều 171 mà còn có mở rộng phạm vi xử lý đối với các tội phạm về môi trường, tội phạm sử dụng công nghệ cao…
Thứ tư, sửa đổi Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự theo hướng cho phép các cơ quan tiến hành tố tụng có thể khởi tố các hành vi xâm phạm quyền SHCN mà không cần phải có yêu cầu của người bị hại. Qua đó, đảm bảo được tính răn đe của pháp luật, bảo vệ lợi ích chính đáng của chủ sở hữu đối tượng SHCN và của người tiêu dùng.

Tóm lại, với những điểm mới và tiến bộ của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự thì những quy định về tội danh và hình phạt trong Điều 171 Bộ luật hình sự đã đáp ứng ngày càng tốt hơn những yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình mới hiện nay. Tuy nhiên, để Bộ luật hình sự ngày càng hoàn thiện, có tính khả thi cao trong quá trình áp dụng vào thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm từ đó tạo ra một hành lang pháp lý an toàn cho xã hội thì vấn đề cần tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung tội phạm và hình phạt trong phần các tội phạm của Bộ luật hình sự là vấn đề vô cùng cần thiết và cấp bách. Trên đây là một số vấn đề vướng mắc, bất cập và hướng giải quyết trong thực tiễn áp dụng những quy định của Điều 171 Bộ luật hình sự cần tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung.

------------------------------------------------------------------------

Thông tin pháp lý liên quan đến tội danh  xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp theo điều 171 luật hình sự năm 1999.

Bị phạt 50 triệu đồng vì xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

Theo báo Công an nhân dân: Ngày 21/2/2014, TAND TP Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ Phùng Quốc Quyền (42 tuổi, ngụ quận 11, TP Hồ Chí Minh) về tội “xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp”.

Kết thúc phiên tòa, HĐXX đã áp dụng hình thức phạt tiền, phạt bị cáo Quyền 50 triệu đồng sung công quỹ nhà nước.

Theo cáo trạng, ngày 11/1/2013, Công an quận 11 kiểm tra hành chính cửa hàng kinh doanh mua bán thiết bị vệ sinh Hữu Thành tại số 175 Tạ Uyên, quận 11 do Phùng Quốc Quyền làm chủ. Qua kiểm tra, CQĐT phát hiện nơi đây chứa 2.498 sản phẩm phụ kiện, thiết bị vòi nước giả nhãn hiệu “L, INAX”.

Ngoài ra, dữ liệu lưu trữ trong máy tính của Quyền còn thể hiện trước đó cửa hàng này đã bán ra thị trường 95 sản phẩm thiết bị nhãn hiệu “L, INAX”, trị giá 71 triệu đồng. Theo giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa thì nhãn hiệu “L, INAX” đã được công nhận bảo hộ tại VN. Đến cuối tháng 3/2013, đại diện sở hữu nhãn hiệu “L, INAX” của Công ty TNHH Lixil Inax VN có công văn yêu cầu xử lý đối với Quyền về hành vi giả nhãn hiệu trên.

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TRANH TỤNG - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ

--------------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ PHÁP LUẬT LIÊN QUAN: