1. Tội xâm phạm quyền tác giả

Điều 131, luật hình sự năm 1999 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định tội xâm phạm quyền tác giả:

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm:

a) Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;

b) Mạo danh tác giả trên tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;

c) Sửa đổi bất hợp pháp nội dung của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;

d) Công bố, phổ biến bất hợp pháp tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến - 1900.6162

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua điện thoại gọi: - 1900.6162

PHÂN TÍCH CÁC KHÍA CẠNH PHÁP LÝ CỦA HÀNH VI XÂM PHẠM QUYỀN TÁC GIẢ:

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt hành chính

(Điều 211, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

1. Tổ chức, cá nhân thực hiện một trong các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ sau đây bị xử phạt vi phạm hành chính:

a) Thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội;

b) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 5.A.3.3 Chương này hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này;

c) Sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, buôn bán, tàng trữ tem, nhãn hoặc vật phẩm khác mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý giả mạo hoặc giao cho người khác thực hiện hành vi này.

2. Chính phủ quy định cụ thể về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử phạt vi phạm hành chính, hình thức, mức phạt và thủ tục xử phạt.

3. Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu trí tuệ thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về cạnh tranh.

Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bị xử lý hình sự

(Điều 212, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

Cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.

Các hình thức xử phạt hành chính và biện pháp khắc phục hậu quả

(Điều 214, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

1. Tổ chức, cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 5.A.3.1 khoản (1) Chương này bị buộc phải chấm dứt hành vi xâm phạm và bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính sau đây:

a) Cảnh cáo;

b) Phạt tiền.

2. Tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Tịch thu hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ;

b) Đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.

3. Ngoài các hình thức xử phạt quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể bị áp dụng một hoặc các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Buộc tiêu huỷ hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nhằm mục đích thương mại đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, vật liệu và phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ;

b) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ, phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên hàng hoá.

4. Mức phạt, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính

(Điều 215, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

1. Trong các trường hợp sau đây, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính quy định tại khoản 2 Điều này:

a) Hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội;

b) Tang vật vi phạm có nguy cơ bị tẩu tán hoặc cá nhân, tổ chức vi phạm có biểu hiện trốn tránh trách nhiệm;

c) Nhằm bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

2. Biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính được áp dụng theo thủ tục hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ bao gồm:

a) Tạm giữ người;

b) Tạm giữ hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm;

c) Khám người;

d) Khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu hàng hoá, tang vật, phương tiện vi phạm về sở hữu trí tuệ;

đ) Các biện pháp ngăn chặn hành chính khác theo quy định của pháp luật về xử l‎ý vi phạm hành chính.

Tội vi phạm quy định về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

(Điều 170, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

1. Người nào có thẩm quyền trong việc cấp văn bằng bảo hộ mà vi phạm quy định của pháp luật về cấp văn bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp

(Điều 171, Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009)

1. Người nào cố ý xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ tại Việt Nam với quy mô thương mại, thì bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ bốn trăm triệu đồng đến một tỷ đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội nhiều lần.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Khởi tố vụ án hình sự

(khoản 1, Điều 105, Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2003)

Những vụ án về các tội phạm được quy định tại Điều 5.A.3.8 khoản (1)của Chương này chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi: CÔNG TY LUẬT TNHH MINH KHUÊ

Điện thoại yêu cầu dịch vụ hoặc tư vấn luật: 1900.6162

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý liên quan: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

2. Xâm phạm quyền tác giả có bị xử lý hình sự không?

Luật sư tư vấn:

Căn cứ vào Điều 212 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005Điều 131 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và tội xâm phạm quyền tác giả như sau:

Điều 212 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005

Cá nhân thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có yếu tố cấu thành tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.

Điều 131 Bộ luật hình sự năm 1999

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm:
a) Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;
b) Mạo danh tác giả trên tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;
c) Sửa đổi bất hợp pháp nội dung của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;
d) Công bố, phổ biến bất hợp pháp tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội nhiều lần;
c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Pháp luật quy định hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có thể bị xử lý hình sự. Theo thông tin bạn cung cấp, tác phẩm của bạn bị xuất bản dưới tên tác giả là người khác, vì vậy nếu bạn có đủ chứng cứ chứng minh tác phẩm đó là của mình thì bạn có quyền khởi kiện người kia về hành vi xâm phạm quyền tác giả. Nếu người kia đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì sẽ bị xử lý hình sự. Cụ thể, người này có thể bị phạt tiền từ hai mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng hoặc cải tạo không giam giữ đến hai năm.

Mọi vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Một số sai sót thường gặp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phương

Có nhiều nguyên nhân gây nên việc khiếu nại kéo dài, dai dẳng, khiếu nại vượt cấp của người dân trong thời gian qua, một trong những nguyên nhân đó là việc các cơ quan nhà nước khi giải quyết khiếu nại của công dân, tổ chức đã phạm phải nhiều sai sót so với quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo.

Các cơ quan nhà nước ngại... ra quyết định giải quyết khiếu nại:

Khi công dân có đơn khiếu nại đến các cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu giải quyết một việc nào đó thì dù đúng sai như thế nào cơ quan đó cũng phải ra quyết định giải quyết khiếu nại thuộc trách nhiệm của mình. Tuy nhiên, có rất nhiều trường hợp không hiểu vì lý do gì mà các cơ quan nhà nước không ra quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định mà chỉ có công văn hoặc thông báo trả lời việc khiếu nại. Khi công dân không đồng ý với cách trả lời đó, khiếu nại lên cấp trên thì cơ quan cấp trên đòi hỏi phải có quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của cơ quan cấp dưới. Người dân lại phải chạy ngược lại yêu cầu cơ quan cấp dưới ra quyết định giải quyết khiếu nại gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người dân. Điều 17 của Nghị định 136/2006/NĐ-CP đã quy đinh: người giải quyết khiếu nại phải ban hành quyết định giải quyết khiếu nại theo các nội dung quy định tại khoản 11, khoản 18 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2005; không dùng thông báo, biên bản cuộc họp hoặc các hình thức văn bản khác để thay thế quyết định giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, trên thực tế thì vẫn còn một số cơ quan đơn vị ngại… ra quyết định giải quyết khiếu nại làm ảnh hưởng đến quyền và lợi hợp pháp của công dân, tổ chức.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Không tổ chức đối thoại với công dân trước khi ban hành quyết định giải quyết.

Việc tổ chức đối thoại với người khiếu nại trong lần giải quyết khiếu nại lần đầu là một thủ tục bắt buột được quy đinh cụ thể tại Điều 9 Nghị định 136/2006/NĐ-CP. Theo đó, trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu người giải quyết khiếu nại phải trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, lợi ích liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại; việc gặp gỡ, đối thoại phải tiến hành công khai, dân chủ; nếu thấy cần thiết có thể mời đại diện tổ chức chính trị - xã hội tham dự.

Đối với việc giải quyết khiếu nại lần hai, việc gặp gỡ, đối thoại trực tiếp chỉ thực hiện khi thấy cần thiết. Trong trường hợp khiếu nại là vụ việc phức tạp, thì người giải quyết khiếu nại lần hai phải gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và lợi ích liên quan. Việc gặp gỡ, đối thoại được tiến hành như lần đầu và kết quả của việc gặp gỡ, đối thoại là một trong các căn cứ làm cơ sở cho việc giải quyết khiếu nại.

Luật đã quy định rõ như vậy nhưng một số cơ quan, đơn vị vẫn “quên” thủ tục này. Trong khi đó, trên thực tế, việc gặp gỡ đối thoại với người khiếu nại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết khiếu nại. Thông qua cuộc gặp đó, giữa người khiếu nại và người giải quyết khiếu nại hiểu rõ hơn nội dung, yêu cầu của người khiếu nại và tìm ra hướng giải quyết. Có những trường hợp thông qua buổi đối thoại, người khiếu nại nhận thấy việc khiếu nại của mình là sai, do chưa hiểu hết bản chất sự việc, hay chưa nắm rõ quy định của pháp luật nên tự nguyện rút đơn sau khi được người có thẩm quyền giải thích thoả mãn.

Việc gặp gỡ đối thoại với người khiếu nại trong khi giải quyết khiếu nại lần đầu là một thủ tục bắt buột, tuy nhiên nó được thực hiện một cách “linh hoạt”, “mềm hơn” so với thủ tục tố tụng. Nếu trong thủ tục tố tụng khi có thiếu sót về trình tự, thủ tục thì cấp trên sẽ huỷ ngay kết quả giải quyết để làm lại theo đúng thủ tục. Trong lĩnh vực giải quyết khiếu nại thì việc này cũng tuỳ vào trường hợp mà cơ quan cấp trên huỷ kết quả để yêu cầu cấp dưới giải quyết lại hoặc vẫn tiếp tục giải quyết tiếp lần hai. Thiết nghĩ vấn đề này cũng nên quy định một cách rõ ràng, dứt khoát, tránh vận dụng một cách tuỳ tiện trong xử lý.

Ra quyết định giải quyết khiếu nại không đảm bảo về hình thức văn bản, nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại.

Qua công tác kiểm tra, thanh tra của Sở Tư pháp Quảng Ngãi trong thời gian qua đối với công tác ban hành văn bản, công tác giải quyết khiếu nại của một số địa phương cho thấy nhiều cơ quan khi ban hành quyết định giải quyết khiếu nại cho công dân, tổ chức rất sơ sài không đảm bảo về hình thức lẫn nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định tại Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã được sữa đổi bổ sung năm 2005. Có nhiều trường hợp ở một số đơn vị khi ra quyết định giải quyết khiếu nại rất sơ sài, chỉ có 1 trang giấy A4; trong quyết định giải quyết khiếu nại không có nội dung khiếu nại, kết quả xác minh nội dung, căn cứ pháp luật để giải quyết, quyền khiếu nại tiếp, quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án... Thông thường thủ trưởng các đơn vị này căn cứ vào Kết luận thanh tra của Đoàn thanh tra để ra quyết định giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, kết luận thanh tra là một trong những cơ sở để ra quyết định giải quyết khiếu nại, chứ nó không thể thay thế cho quyết định giải quyết khiếu nại. Có thể nói rằng hình thức và nội dung của một quyết định giải quyết khiếu nại nó giống như một bản án của Toà, phải có đầy đủ những nội dung mới đảm bảo được tính pháp lý của nó.

…Đến việc “quên” tuyên quyền khiếu nại, khởi kiện tiếp của người khiếu nại.

Theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo hiện hành thì trong quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu phải có nội dung quyền khiếu nại tiếp, quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án. Trong quyết định giải quyết khiếu nại lần hai phải có nội dung quyền khởi kiện hành chính tại Toà án của người khiếu nại. Tuy nhiên, có nhiều quyết định giải quyết khiếu nại các cơ quan nhà nước lại “quên” tuyên quyền này cho người khiếu nại, đây cũng chính là nguyên nhân làm cho người khiếu nại gửi đơn thư tràn lan, vượt cấp. Khi được hỏi vì sao không tuyên quyền khiếu nại, khởi kiện tiếp của người khiếu nại, có vị trả lời rằng: “Tuyên làm chi, như thế khác nào vẽ đường cho hươu chạy”. Luật đã quy định trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại là phải làm điều đó, phải hướng dẫn cho công dân và đó cũng chính là quyền của công dân được biết phải khiếu nại, khởi kiện tiếp ở đâu? Có những trường hợp người khiếu nại gửi đơn thư tràn lan là do không được “vẽ đường” nên “chạy” không trúng chổ, gây ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và gây khó khăn cho các cơ quan nhà nước.

(MINH KHUE LAW FIRM: Sưu tầm & biên tập)

>> Tham khảo dịch vụ luật sư: Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

4. Lợi ích của việc đăng ký quyền tác giả

Thưa luật sư, xin hỏi: Đăng ký quyền tác giả là gì? Lợi ích của việc đăng ký quyền tác giả ? Cảm ơn!

Tội xâm phạm quyền tác giả

Luật sư tư vấn thủ tục, quy trình đăng ký bản quyền, gọi số: 0986.386.648

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, đăng ký quyền tác giả là việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nộp đơn và hồ sơ kèm theo (gọi chung là đơn) cho Cục Bản quyền tác giả để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả.

Đăng ký quyền tác giả không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả. Việc đăng ký bảo hộ không phải là cơ sở xác lập quyền tác giả; tác phẩm dù có đăng ký hay không đăng ký quyền tác giả đều được hưởng sự bảo hộ như nhau. Tuy nhiên, việc đăng ký quyền tác giả lại cần thiết và rất có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền tác giả, đặc biệt trong việc chứng minh quyền tác giả khi có tranh chấp xảy ra.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại. Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả là bằng chứng mặc nhiên xác nhận tư cách và quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm đã đăng ký.

Nếu tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả không đăng ký quyền tác giả thì khi có tranh chấp xảy ra các chủ thể này phải có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả của mình đối với tác phẩm đó, tức phải tự mình cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyền tác giả của mình đối với tác phẩm. Trong nhiều trường hợp việc tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả chứng minh quyền của mình là rất khó, thậm chí không thể chứng minh được mình là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả của tác phẩm có tranh chấp.

Thủ tục đăng ký quyền tác giả không quá phức tạp và chi phí rất nhỏ so với lợi ích thiết thực mang lại. Vì vậy, khi sáng tạo ra tác phẩm, đặc biệt các tác phẩm sáng tạo, có giá trị thương mại và nhiều khả năng bị sử dụng trái phép, chiếm đoạt thì tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả nên nhanh chóng thực hiện đăng ký quyền tác giả.

Mọi vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay tới số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Sở hữu Trí tuệ - Công ty Luật Minh Khuê