1. Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự ?

Luật Minh Khuê giải đáp những thắc mắc về Luật Minh Khuê giải đáp những thắc mắc về tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự:

Tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác theo quy định của pháp luật hình sự ?

Luật sư tư vấn quy định pháp luật về tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

- Về xử phạt vi phạm hành chính:

Đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác có thể bị xử phạt hành chính, bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi của người đó và gửi ra công an khu vực, nếu đủ cơ sở chứng minh, tùy theo mức độ, hành vi của người đó có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP như sau:

"Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;”

Như vậy mức xử phạt có thể bị áp dụng với người có hành vi như bạn đã nêu là từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

- Về vấn đề quy cứu trách nhiệm hình sự:

Điều 121 Bộ Luật Hình sự 1999 (Văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015) quy định về tội làm nhục người khác như sau:

"Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Làm nhục người khác là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của con người.

Người phạm tội phải là người có hành vi (bằng lời nói hoặc hành động) xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, cạo đầu, cắt tóc, lột quần áo giữa đám đông… Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực như bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế, đe dọa, buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình. Tất cả hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác. Nếu hành vi làm nhục người khác lại cấu thành một tội độc lập thì tùy trường hợp cụ thể, người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục và tội tương ứng với hành vi đã thực hiện.

Ý thức chủ quan của người phạm tội là mong muốn cho người bị hại bị nhục với nhiều động cơ khác nhau, có thể trả thù chính người bị hại hoặc cũng có thể trả thù người thân của người bị hại.

Người bị hại phải là người bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự nhưng thế nào là nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm nghiêm trọng là một vấn đề khá phức tạp. Bởi vì cùng bị xâm phạm như nhau nhưng có người bị thấy nhục hoặc rất nhục nhưng có người lại thấy bình thường. Về phía người phạm tội cũng có nhận thức tương tự, họ cho rằng với hành vi như thế thì người bị làm nhục sẽ nhục hoặc rất nhục nhưng người bị hại lại thấy chưa bị nhục. Nếu chỉ căn cứ vào ý thức chủ quan của người phạm tội hay người bị hại thì cũng chưa thể xác định một cách chính xác mà phải kết hợp với các yếu tố như trình độ nhận thức, mối quan hệ gia đình và xã hội, địa vị xã hội, quá trình hoạt động của bản thân người bị hại, phong tục tập quán, truyền thống gia đình... Dư luận xã hội trong trường hợp này cũng có ý nghĩa quan trọng để xác định nhân phẩm, danh dự của người bị hại bị xâm phạm tới mức nào. Sự đánh giá của xã hội trong trường hợp này có ý nghĩa rất lớn để xác định hành vi phạm tội của người có hành vi làm nhục.

Trình tự thủ tục tố giác tội phạm được quy đinh trong Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 của Quốc hội​ (Văn bản mới: bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) như sau:

Nếu bạn có đủ căn cứ về hành vi của người đó phạm tội làm nhục người khác theo quy định của Bộ luật hình sự thì bạn có thể đến cơ quan có thẩm quyền để tố giác tội phạm theo Điều 101 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 như sau:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.

Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

"Điều 86. Nhiệm vụ giải quyết tố giác và tin báo về tội phạm.

Trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi nhận được tố giác hoặc tin báo, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

Sau khi tiếp nhận tin báo của, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh với sự việc của bạn. Nếu có dấu hiệu của tội phạm, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bạn. Nếu sau khi điều tra xác minh thấy không có dấu hiệu phạm tội thì cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Thưa luật sư, xin hỏi Luật sư cho em hỏi khi có một người giả danh người khác lập ra một cái Facebook. Rồi lấy hình ảnh của người khác đăng lên để sỉ nhục và lăng mạ người khác thì người đó có phạm tội không ạ ? Xin luật sư cho em ý kiến

Điều 31 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội (Văn bản mới: bộ luật dân sự năm 2015) quy định về quyền của cá nhân đối với hình ảnh như sau:

"Điều 31. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh."

Như vậy trường hợp này việc người kia sử dụng hình ảnh của người khác đăng lên mạng xã hội để lăng mạ, xúc phạm người khác là đã vi phạm quy định của pháp luật. Người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo quy định tại Điều 121 Bộ luật hình sự 1999.

Thưa luật sư, xin hỏi: Mẹ tôi có nói chuyện với một người khác qua điện thoại, trong cuộc nói chuyện có nhắc đến một người làm việc cùng mẹ tôi và người đó đang bị vi phạm kỷ luật. Trong lời nói mẹ tôi có nói người đó ngu lắm, theo quan điểm của mẹ tôi là phải xử lý ra khỏi đảng. Cuộc gọi trên đã bị thu âm lại và người đó gửi đơn tố cáo mẹ tôi xúc phạm danh dự nhân phẩm, theo luật sư mẹ tôi có vi phạm hay không? Mong luật sư trả lời sớm.

Hành vi này của mẹ bạn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện theo Nghị định số 174/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điệnnhư sau:

"Điều 66. Vi phạm quy định về lưu trữ, cho thuê, truyền đưa, cung cấp, truy nhập, thu thập, xử lý, trao đổi và sử dụng thông tin

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;"

Chào luật sư! Hy vọng tôi nhận được sự giúp đỡ. Tôi đang bị 1 người quen cũ bịa đặt lăng mạ danh dự tôi trước nhiều người. Người đó từng theo đuổi tôi, nhưng không có trở thành người yêu gì của nhau cả, cũng không xảy ra việc quá giới hạn gì. Hôm nay tôi nhận được tin người đó nói trước mặt bạn trai tôi và các anh em cùng cơ quan rằng từng quen tôi, có xảy ra quan hệ tình dục và rất nhiều lời thô tục (lúc đó tôi không có ở đó). Làm hại danh dự của tôi và cả sĩ diện bạn trai tôi trước đông người. Tôi không biết cách nào để khởi kiện hay trình báo ở đâu cả. Xin hãy hướng dẫn giúp tôi.

Điều 122 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tội vu khống như sau:

"Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trường hợp người kia bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bạn. Người này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vu khống theo quy định tại Điều 122 Bộ luật hình sự 1999.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

2. Ly hôn xong nhưng vẫn bị chồng xúc phạm danh dự, nhân phẩm ?

​Xin chào Ban lãnh đạo Công ty và Luật sư! Tôi không chịu đựng nỗi sự xúc phạm danh dự, nhân phẩm và những trận đòn điên dại của chồng nên chúng tôi đã ly hôn. Chồng tôi luôn miệng chửi tôi, xúc phạm tôi và còn liên tục đánh đập còn đánh tôi. Tôi giải thóat mình bằng cách ly hôn. Nhưng ly hôn xong tôi vẫn không được yên ổn. Chồng tôi tiếp tục nhắn tin xúc phạm tôi. Hâm dọa sẽ giết chết tôi vì tại sao tôi lại phản bội anh ta đi theo trai. Hiện tại Tòa án đã xử cho tôi nuôi con, nhưng chồng tôi thường xuyên hâm dọa sẽ giết tôi, giành con với tôi. Trước đó, lúc tôi có bầu, chồng tôi đã không nhận mà nó nói với tất cả mọi người là tôi đi với trai mới có bầu.
Xin hỏi quý Công ty, tôi cần làm những thủ tục gì để gửi đơn kiện hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của tôi ?
Cảm ơn luật sư!

Ly hôn xong nhưng vẫn bị chồng xúc phạm danh dự, nhân phẩm ?

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Khoản 1 Điều 121 Bộ luật Hình sự 1999 (Bộ luật Hình sự sửa đổi, bổ sung 2009) quy định về tội làm nhục người khác như sau: "Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

* Đối với người phạm tội

Người phạm tội phải là người có hành vi (hành động) được thể hiện bằng lời nói hoặc hành động xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm danh dự của người khác như: lăng mạ, chửi rủa thậm tệ, lột quần áo giữa đám đông người, thoả mãn thú vui của xác thịt v.v...nhưng chưa tới mức cấu thành tội phạm như: Hiếp dâm, cưỡng dâm và không thuộc trường hợp dâm ô với trẻ em, mà chỉ xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác.

Để làm nhục người khác, người phạm tội có thể có những hành vi vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực như: bắt trói, tra khảo, vật lộn, đấm đá hoặc dùng phương tiện nguy hiểm khống chế đe doạ buộc người bị hại phải làm theo ý muốn của mình, nhưng tất cả các hành vi, thủ đoạn đó chỉ nhằm mục đích là làm nhục chứ không nhằm mục đích khác.

* Về phía người bị hại

Là người bị xâm phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự. Việc xác định như thế nào là nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm nghiêm trọng cũng là một vấn đề khá phức tạp, bởi vì cùng bị xâm phạm như nhau, nhưng có người bị thấy nhục hoặc rất nhục, nhưng có người lại thấy bình thường, không thấy bị nhục. Những chuẩn mực này, nếu chỉ căn cứ vào ý thức chủ quan của người phạm tội hay người bị hại thì cũng chưa thể xác định một cách chính xác được mà phải kết hợp với các yếu tố như: trình độ nhận thức, mối quan hệ gia đình và xã hội, địa vị xã hội, quá trình hoạt động của bản thân người bị hại, phong tục tập quán, truyền thống gia đình v.v... Dư luận xã hội trong trường hợp này cũng có ý nghĩa quan trọng để xác định nhân phẩm, danh dự của người bị hại bị xâm phạm tới mức nào. Sự đánh giá của xã hội trong trường hợp này có ý nghĩa rất lớn để xác định hành vi phạm tội của người có hành vi làm nhục.

Khoản 1 Điều 122 quy định về tội vu khống như sau: "Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

Người phạm tội phải có một trong các hành vi sau:

- Bịa đạt những điều không có thực

Bịa đặt là tự nghĩ ra một điều gì đó mà không có đối với người khác như: không quan hệ bất chính lại tố cáo là quan hệ bất chính, không nhận hối lộ lại tố cáo là nhận hối lộ...

- Loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt

Tuy người phạm tội không bịa đặt, nhưng lại loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt. Việc loan truyền này có thể bằng nhiều hình thức khác nhau như: sáo chép làm nhiều bản gửi đi nhiều nơi, kể lại cho người khác nghe, đăng tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng... Người có hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt có thể biết điều đó do ai bịa đặt hoặc cũng có thể chỉ biết đó là bịa đặt còn ai bịa đặt thì không biết.

Người loan truyền phải biết rõ điều mình loan truyền là không có thực nếu họ còn bán tin bán nghi thì cũng chưa cấu thành tội vu khống.

- Bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền

Đây là trường hợp tố cáo trước cơ quan có thẩm quyền về một tội phạm xảy ra và người thực hiện tội phạm mà hoàn toàn không có thực.

Tất cả những hành vi bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt hoặc tố cáo sai người phạm tội với cơ quan có thẩm quyền đều nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền lợi của người bị hại.

Căn cứ vào quy định trên có thể thấy chồng bạn có dấu hiệu của tội làm nhục người khác và tội vu khống; do đó trong trường hợp này bạn có thể gửi đơn tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án.

Yêu cầu khởi tố của bạn có thể được thể hiện dưới hình thức đơn hoặc trình bày trực tiếp. Đơn yêu cầu khởi tố có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu. Trường hợp yêu cầu khởi tố được trình bày trực tiếp thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát lập biên bản ghi rõ yêu cầu khởi tố có chữ ký hoặc điểm chỉ của người yêu cầu. Biên bản do viện kiểm sát lập được chuyển ngay cho cơ quan điều tra để xem xét việc khởi tố vụ án hình sự và đưa vào hồ sơ vụ án.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Xử lý hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm và vu khống ?

Thưa Luật sư, lúc em còn nhỏ, em bị một người khoảng bằng tuổi em lạm dụng tình dục, tuy nhiên chỉ là quan hệ phía ngoài. Lúc đó, em nhỏ quá nên không ý thức được. Sau đó, khi lớn lên thêm một chút, em có tự nguyện quan hệ với một anh. Không hiểu sau đến năm 18 tuổi, em bị mọi người chọc phải bỏ học vì mọi người có quay lén cảnh quan hệ của em.
Em không dám đứng ra tố cáo vì em sợ do quá sợ và vì 1phần dồn nén quá lâu em bị trầm cảm chỉ dám viết ra chứ kêu em nói em nói không được chính vì vậy mà em đã làm liên lụy gia đình mình đã mấy năm rồi những em vẫn không thể đứng ra tố cáo mặc cho mọi người xung quanh chửi rủa sống như không có gì xảy ra nhưng thật sự em mệt lắm. Em đã cố gắng tự tử để giãi thoát cho mình nhưng em làm cũng không xong. Nay em gửi thư này mong mọi người giúp em có biện pháp bắt chúng ?
Cảm ơn luật sư!

Xử lý hành vi xúc phạm danh dự nhân phẩm và vu khống ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Trước hết, chúng tôi muốn bạn phải bình tĩnh và không có những hành động thiếu suy nghĩ như tự tử hay các hành động tiêu cực khác. Vì chuyện cũng đã xẩy ra, nên bạn phải có suy nghĩ cẩn thận.

Vấn đề của bạn chúng tôi có những tư vấn như sau.

Hành vi mà những người trong xóm bạn có thể cấu thành hai hoạc một trong hai tội là Tội làm nhục người khác được quy định tại điều 121 và Tội vu khống được quy định tại điều 122 của Bộ Luật hình sự năm 1999 sửa đổi 2009 như sau:

“ Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”

Thứ nhất đối với tội “Làm nhục người khác” được quy định tại điều 121 thì sẽ có các hành vi như : đối với lời nói thì là sỉ nhục , chửi bới, một cách thô tục, tục tĩu…..nhằm vào nhân cách , danh dự với tính chất hạ thấp , nhân cách, danh dự của người bị hại đồng thời làm cho bạn cảm thấy xấu hổ, nhục nhã trước những người khác. Còn về việc làm thì có những hành vi bỉ ổi( có hoạc không kèm theo lời nói tục tĩu) với chính bản thân họ hoạc với bạn trước đám đông để bêu riếu. Nhưng nó phải diễn ra trực tiếp và công khai và trước nhiều người. Để có thể truy cứu được trách nhiệm hình sự những người đó thì hành vi nêu trên phải gây ra những ảnh hưởng xấu ở mức độ nhất định đến danh dự nhân phẩm của người bị hại. Các hành vi quy định tại khoản 1 điều 121 Tội làm nhục người khác chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi bạn có yêu cầu khởi tố.

Thứ hai còn đối với “Tội vu khống” được quy định tại điều 122 thì hành vi của tội này đó là có hành vi bịa đặt hoạc người phạm tội không bịa đặt nhưng biết rõ điều đó là bịa đặt mà vấn tiếp tục loan truyền điều bịa đặt đó( như nói cho người khác biết, qua tin nhắn điện thoại hay đưa lên phương tiện thông tin đại chúng cho người khác biết như là trên face book hay là zalo….) nhằm gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.

Nêu như họ không đủ để truy cứu trách hình sự thì bạn phải hết sức cụ thể trong đơn cũng như chuẩn bị như chứng cứ kèm theo để chứng minh mỗi quan hệ giữa những hành vi của họ với hậu quả mà bạn và gia đình bạn phải gánh chịu để bắt họ phải bồi thường thiệt hại. Vấn đề này được quy định tại khoản 1 điều 604 của Bộ Luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường."

Biện pháp:

Với trường hợp bạn đưa ra thì những người bạn trong xóm đã có những hành vi như chọc gẹo, quay lén cảnh sinh hoạt để nhằm bêu xấu bạn, chửi rủa sống bạn giữa đám đông . Muốn khép tội họ thì bạn phải chứng mình được qua những chứng cứ bạn thu thập. Cụ thể như bạn sử dụng điện thoại tự quay hoặc nhờ người khác quay lại các hành vi đó. Hoặc có thể tìm kiếm những hình ảnh mà học quay về bạn để chứng minh bạn đang bị xâm phạm đến quyền và lời ích của mình.

Nếu chứng cứ này đầy đủ thì bạn hãy viết đơn tố cáo gửi cho công an gần nơi ở bạn nhất. Nếu nhẹ họ có thể bị xử lý hành chính, còn nếu chứng minh được đã đến mức độ xâm phạm nghiêm trọng thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Còn những hành vi bịa đặt, tức là những thông tin họ đưa ra cho tất cả mọi người biết mà sự thật không có và những người đó biết là không có mà vẫn đưa tin để nhằm xúc phạm bạn thì bạn cần ghi chép lại đầy đủ cũng như tìm kiếm những thông tin đó xuất hiện trên những thông tin đại chúng hay ghi âm lại được những lời thoại của họ thì bạn hãy đưa lên trụ sở công an nơi gần nhất đề trình báo.

Trong đơn gửi công an thì bạn phải ghi rõ những hành vi và hâu quả đã gây ra cho bạn( ghi chi tiết và cụ thể) cũng như những người thân của bạn phải chịu đựng. Cuối đơn là phải có đề nghị rõ ràng về việc bạn muốn công an xử lý như thế nào. Cũng như phải có chữ ký và họ tên của bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

4. Kể cho người khác chuyện mình đã nghe có phạm tội xúc phạm danh dự người khác không ?

Xin chào luật Minh Khuê, em có câu hỏi xin được giải đáp: Cho em hỏi em với người bạn khác nghe chuyện con gái của người bạn có quan hệ cùng bạn trai qua một người khác nữa. Một người bạn kia nói lại với bạn em là: "con gái bà tôi nghe người ta nói nó như vậy đó bà coi sao".Vậy em và bạn em có bị khép tội xúc phạm danh dự của người khác không?
Xin cảm ơn.
Người gửi: H.K

Kể cho người khác chuyện mình đã nghe có phạm tội xúc phạm danh dự người khác không ?

Luật sư tư vấn trực tuyến Luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Tình huống bạn đưa ra có một số dấu hiệu của tội làm nhục người khác và tội vu khống theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 :

Điều 121. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 122. Về tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Đối với tội làm nhục người khác, cần lưu ý thường thể hiện bằng lời nói như chửi rủa, xỉ nhục ở nơi đông người, bằng viết, vẽ hay những hành động khác có tính chất bỉ ổi. Như vậy đối với hành vi của bạn chưa đủ dấu hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.

Đối với tội vu khống người khác, có một trong các dấu hiệu sau:

- Tạo ra những thông tin không đúng sự thực và loan truyền các thông tin đó mặc dù biết đó là thông tin không đúng sự thực.

- Tuy không tự đưa ra các thông tin không đúng sự thực nhưng có hành vi loan truyền thông tin sai do người khác tạo ra mặc dù biết rõ đó là những thông tin sai sự thực.

Nội dung của thông tin sai sự thực phải thể hiện sự xúc phạm đến danh dự, uy tín, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Loan truyền thông tin sai sự thực có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như truyền miệng, qua các phương tiện thông tin đại chúng, viết đơn, thư tố giác …Nếu người phạm tội nhầm tưởng thông tin mình loan truyền là đúng sự thực thì hành vi không cấu thành tội phạm.

Như vậy đối với hành vi của bạn, xảy ra hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, bạn không biết chắc chắn về tính trung thực của thông tin, tức bạn không cố ý lan truyền thông tin sai trái hoặc bạn nhầm tưởng có là thông tin đúng và tính chất chỉ để khuyên ngăn, lưu ý thì không cấu thành tội phạm

Trường hợp thứ hai, bạn biết chắc chắn đó là thông tin sai nhưng vẫn cố tình lan truyền thông tin đó nhằm xúc phạm danh dự, uy tín, gây thiệt hại cho người khác thì sẽ có thể cấu thành tội vu khống.

Tuy nhiên ở trường hợp của bạn, vì câu nói của bạn chưa rõ ràng và mang tính chất khuyên ngăn cho bạn của bạn tức là mẹ của bạn gái trong tình huống này vì vậy chưa đến mức cấu thành tội phạm.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

5. Tội vụ khống, xúc phạm danh dự và nhân phẩm cá nhân thì tố cáo tới cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ?

Kính thưa luật sư, Tôi có câu hỏi muốn nhờ luật sư tư vấn pháp luật cho tôi như sau:- tôi hiện là cư dân ở chung cư, trong chung cư có group dành riêng cho những người trong chung cư trao đổi, phản hồi , đưa những thắc mắc để ban quản trị& ban quản lý xử trí kịp thời. Nhưng thành viên ban quản trị đã lợi dụng group để vu khống tôi ăn cắp.

Mà không có bằng chứng, một số người hùa theo nói xấu xúc phạm , hạ nhục danh dự tôi bằng những lời lẽ trong group để mọi người coi thường tôi. Tôi có chụp lại những câu chát đó để làm bằng chứng.

Vậy luật sư tư vấn giúp tôi có được khởi kiện. Hay tố cáo tới cơ quan nào có thẩm quyền. Để phục hồi danh dự và nhân phẩm của tôi trước cộng đồng tôi đang sinh sống rất mong quý luật sư trả lời ?

Tôi thành thực mang ơn chào luật sư. Chúc thật nhiều sức khỏe để phục vụ mọi người.

Tội vụ khống, xúc phạm danh dự và nhân phẩm cá nhân thì tố cáo tới cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ?

Luật sư trả lời:

Chào bạn cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:

Đối với việc xảy ra đối với bạn thì bạn khi bạn lưu lại tất cả các thông tin làm căn cứ cho việc có người có hành vi xúc phạm là căn cứ để bạn trình báo ra cơ quan có thẩm quyền cùng với đơn trình báo cụ thể là tòa án hoặc cơ quan công an quận/ huyện nơi bạn đang cư trú.

Thứ nhất, đối với hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm ( Điều 34 Bộ luật dân sự năm 2015)

Khi cá nhân có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân khác là xâm phạm quyền được tôn trọng về danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân đó được pháp luật bảo vệ. Và khi bị xâm phạm về quyền này cá nhân bạn có quyền yêu cầu tòa án buộc người đó phải gỡ bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm của bạn khi tòa án có căn cứ việc đưa ra thông tin đó là hoàn toàn không đúng sự thật, không có căn cứ và buộc người có hành vi vi phạm phải cải chính công khai và xin lỗi bạn, cụ thể:

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Thứ hai, hình thức xử lý đối với người có hành vi vi phạm:

Tùy theo mức độ và tính chất của hành vi vi phạm có gây ảnh hưởng đến bạn đến mức độ nào mà người có hành vi vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự:

Nếu như từ việc group trên mạng xã hội mà dân đến những người dân ở khu dân cư có hành vi không đúng thì họ cũng có thể bị xử phạt theo quy định tại Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP về vi phạm quy định về trật tự công cộng:

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

Hoặc bạn có xác định về người lan truyền thông tin trên group là nguyên nhân dẫn đến thông tin sai sự thật đó được phát tán rộng rãi đến tất cả mọi người trong khu chung cư thì người này có thể bị xử phạt về hành vi sau nếu đủ căn cứ chứng minh theo khoản 3 Điều 64 Nghị định 174/2013/NĐ-CP:

Điều 64. Vi phạm quy định về trang thông tin điện tử, trang thông tin điện tử tổng hợp
3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Cung cấp nội dung thông tin sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
b) Cung cấp nội dung thông tin không phù hợp với lợi ích đất nước;
c) Đăng, phát bản đồ Việt Nam không thể hiện đầy đủ hoặc thể hiện sai chủ quyền quốc gia;
d) Đăng phát các tác phẩm đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu;
đ) Giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác;
e) Không có hệ thống máy chủ đặt tại Việt Nam đáp ứng việc thanh tra, kiểm tra, lưu trữ, cung cấp thông tin theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc giải quyết khiếu nại của khách hàng đối với việc cung cấp dịch vụ theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông.

Nếu việc lan truyền có ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của bạn và gây hậu quả, đủ dấu hiệu của tội sau thì họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

Tuy nhiên theo như chị nêu thì hành vi của chị mới chỉ phát tán trên điện thoại, mạng thì ở đây cũng chưa gây hậu quả đáng nghiêm trọng hơn nữa người kia cũng có những hành vi như vậy, không phải chị bịa đặt vu khống cho họ nên ở đây họ chỉ có thể yêu cầu tòa án buộc chị tháo dỡ thông tin và xin lỗi.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

6. Cần phải làm gì khi bị quấy rối, xúc phạm danh dự nhân phẩm ?

Thưa luật sư, xin hỏi Luật Minh Khuê về việc làm gì khi bị quấy rối ? Quy định về hành vi xúc phạm nhân phẩm bị xử lý như thế nào ? Cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Việc xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác được hiểu là làm tổn thương nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của người khác. Việc đánh giá việc xúc phạm có ở mức độ nghiêm trọng hay không phải căn cứ vào thái độ, nhận thức của người phạm tội; cường độ và thời gian kéo dài của hành vi xúc phạm; vị trí và môi trường xung quanh; vị trí, vai trò, uy tín của người bị hại trong gia đình, tổ chức hoặc trong xã hội; dư luận xã hội về hành vi xúc phạm đó.

Theo quy định tại Ðiều 37 Bộ luật Dân sự có quy định như sau:“ Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.”

Theo quy định tại Ðiều 604 Bộ luật Dân sự có quy định:

Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường

Việc gây tổn hại đến danh dự, nhân phẩm của mình, bạn có thể tiến hành đòi bồi thường theo quy định tại BLDS như sau:

"Điều 604. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

2. Trong trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường cả trong trường hợp không có lỗi thì áp dụng quy định đó.

Điều 605. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.

Điều 611. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Như vậy khi nhận thấy danh dự nhân phẩm của mình bị xâm phạm bạn có quyền khởi kiện dân sự có kèm nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đồng thời yêu cầu người gây ra thiệt hại phải bồi thường. Trong trường hợp này, bạn sẽ làm đơn khởi kiện tới Tòa án có thẩm quyền . Ở đây là Tòa án cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015:

" Điều 39. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;

Ngoài ra, tại Điều 121 Bộ luật hình sự 1999 (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 37/2009/QH12) có quy định:

"Điều 121. Tội làm nhục người khác – Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm”

Trong cuộc sống hằng ngày thường xảy ra nhiều hành vi có tính chất làm nhục người khác nhưng chỉ coi là tội làm nhục người khác khi hành vi đó xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của nạn nhân. Nếu chỉ là những lời lẽ hành động có tính chất thiếu văn hóa như chửi rủa nhau ở đám đông, đổ nước bẩn vào nhau hoặc trong quán nhậu cãi nhau rồi hắt bia, rượu vào mặt nhau thì không phải là tội phạm, mà tùy trường hợp có thể bị xử phạt hành chính.

Hành vi bịa đặt những thông tin không đúng sự thật để xúc phạm đến danh dự của người khác còn cấu thành nên tội vu khống theo BLHS như sau:

"Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm..."

Theo quy định tại điều 101 BLTTHS 2003:

“Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.
Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản”.

Sau khi gửi đơn tố giác, quyền và nghĩa vụ của bạn là cung cấp mọi thông tin đúng sự thật cho cơ quan điều tra nếu cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án theo đơn tố giác nếu có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Các hành vi này có thể bị xử phạt hành chính, bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi của người đó và gửi ra công an khu vực, nếu đủ cơ sở chứng minh, tùy theo mức độ, hành vi của người đó có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính, phòng chống bạo lực gia đình như sau:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;”

Thưa luật sư, Tên Thưa Luật sư,tôi muốn hỏi:Người bị tâm thần nhưng có sử dụng thuốc và hoàn toàn không bị lên cơn tâm thần,bà ta có hai con bình thường và đang sinh sống xa nhà, người này xúc phạm danh dự nhân phẩm của gia đình tôi trong một thời gian dài(13 năm),tôi nhận thấy người này hoàn toàn có khả năng điều chỉnh và nhận thức hành vi của mình.Ngoài việc xúc pham trên bà ta còn hay chọi gạch đá vào nhà tôi và luôn kiếm chuyện để chửi bới,chúng tôi càng nhịn bà ta càng làm tới.Những việc làm của bà ta ảnh hưởng nghiêm trọng không những về danh dự tinh thần vật chất mà cả sức khỏe và cuộc sống của mẹ tôi.(Mẹ tôi bị yếu tim).Chúng tôi luôn nhẫn nhịn nhưng không đổi được sự bình yên.Nhiều lần chúng tôi kiến nghị lên địa phương và huyện nhưng không được giải quyết. Luật sư trong trường hợp này tôi phải làm gì ? Cảm ơn luật sư ạ.

Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009 chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự.

Tuy nhiên, theo Điều 13 Bộ luật Hình sự quy định về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự:

1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Do đó, nếu có đầy đủ cơ sở xác định người đó mắc bệnh tâm thần khi thực hiện hành vi làm nhục người khác thì người đó không phải chịu trách nhiệm hình sự nhưng phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh:

Điều 43. Bắt buộc chữa bệnh

1. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại khỏan 1 Điều 13 của Bộ luật này, thì tùy theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh; nếu thấy không cần thiết phải đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa, thì có thể giao cho gia đình hoặc người giám hộ trông nom dưới sự giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2. Đối với người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

3. Đối với người đang chấp hành hình phạt mà bị bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì căn cứ vào kết luận của Hội đồng giám định pháp y, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó phải tiếp tục chấp hành hình phạt, nếu không có lý do khác để miễn chấp hành hình phạt.

Điều 44. Thời gian bắt buộc chữa bệnh

Căn cứ vào kết luận của cơ sở điều trị, nếu người bị bắt buộc chữa bệnh quy định tại Điều 43 của Bộ luật này đã khỏi bệnh, thì tuỳ theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án xét và quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này.

Thời gian bắt buộc chữa bệnh được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù.

Sau thời gian chữa bệnh, người đó sẽ phải chấp hành hình phạt.

Tuy nhiên, Nếu mới chỉ được xác nhận là mắc bệnh tâm thần mà chưa đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự. Người đó phải chịu TNHS về làm nhục người khác theo Điều 121 BLHS và phải bồi thường về danh dự nhân phẩm và cả tài sản cho gia đình bạn nếu có thiệt hại.

Thưa luật sư, xin hỏi: Vụ việc là trước nhà và bên cạnh kinh doanh vật liệu xây dưng có kho xi măng nen gây bụi nghi ngút,khi hộ bên cạnh bốc xi măng nen tôi phun sương,hộ bên cạnh cho rằng viêc tôi làm là ảnh hưởng công việc của họ nên đã qua nhà tôi,xách dép đánh vào mặt tôi nhiều lần trước sự chứng kiến của bà con và người đi đường. Vậy có xúc phạm danh dự người khác không.Tôi muốn khiếu nại về việc này lên các cấp chính quyền,nhưng chưa hiểu thế nào,khiếu nại ở đâu.Xin luật sư cho tôi hướng đi cụ thể ? Xin chân thành cảm ơn!

Trong trường hợp này, hành vi của hàng xóm là cố ý gây thương tích cho bạn chứ không cấu thành nên tội xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bạn. Tuy nhiên, hành vi này chưa đủ để cấu thành nên tội Cố ý gây thương tích cho người khác theo quy định tại Điều 104 BLHS như sau: "1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.."

Tuy nhiên, hành vi này sẽ bị xử phạt hành chính theo Điểm a Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính, phòng chống bạo lực gia đình như sau:

"​2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;"

Ngoài ra BLDS 2005 cũng quy định nghĩa vụ bồi thường khi sức khỏe bị xâm phạm như sau:

"Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Đối với hành vi này, vì mức độ không quá nguy hiểm, nên bạn có thể báo cáo đến cơ quan công an xã yêu cầu được giải quyết.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự - Công ty Luật Minh Khuê.