1. Trách nhiệm của công an giao thông trọng vụ tai nạn giao thông đường bộ ?

Xin chào Luật sư Minh Khuê! Em có một số câu hỏi kính mong luật sư tư vấn giúp em! Bố em đứng đúng ở mép đường (giữa phần ngoài đường không rải nhựa và phần được rải nhựa)của quốc lộ 10 để bắt xe ô tô chiều đi ngược lại, không may bị một xe khách chạy phía bên đường bố em đang đứng băng qua cả phần đường dành riêng cho xe thô sơ và xe máy (có vạch liền phân cách) rồi hất văng bố em khoảng 10m bất tỉnh,bị vỡ xương sọ vùng thái dương bên trái. 

Tài xế xe khách sau đó đã cùng người dân đưa bố em vào cấp cứu sau đó trình diện công an. Công an giao thông cũng xuống hiện trường ghi nhận và lập hồ sơ,tạm giữ người và ô tô, nhưng biên bản vụ tai nạn lại không đưa người nhà em kí. Vị trí bố em nằm cũng không được đánh dấu mà chỉ đánh dấu vị trí gây tai nạn.

Như vậy luật sư cho em hỏi gia đình em có cần làm đơn yêu cầu điều tra hình sự không, công an giao thông làm việc như vậy đã đúng chưa và có dấu hiệu bao che khi hiện trường không được vẽ đầy đủ? Bố em đã chuyển lên bệnh viện tuyến trên tròn một tuần và chưa có dấu hiệu hồi tỉnh, không có công an đến kiểm tra tình trạng bố em, người nhà em có lên công an huyện hỏi phó công an huyện thì được trả lời bố em sai nhưng không cho biết lí do sai thế nào ?

Vậy em kính mong luật sư tư vấn cho em bố em đúng hoặc sai như thế nào, công an như vậy đã chuẩn chưa và trách nhiệm của người gây tai nạn, kết quả giám định khi nào cần thiết thưa luật sư? Xin chân thành cảm ơn và chúc công ty luôn thịnh vượng! Kính mong sự giúp đỡ tư vấn và phản hồi sớm ạ!

Trách nhiệm của công an giao thông trọng vụ tai nạn giao thông đường  bộ ?

 Luật sư tư vấn Luật hình sự về tai nạn giao thông, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Về vấn đề của bạn Công ty xin được giải đáp như sau:

Thứ nhất, về quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông:

Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 38 Luật giao thông đường bộ năm 2008 về Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông thì:

"  Cơ quan công an khi nhận được tin về vụ tai nạn có trách nhiệm cử người tới ngay hiện trường để điều tra vụ tai nạn, phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ và Ủy ban nhân dân địa phương bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn."

Căn cứ quy định tại Điều 3 Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA ban hành quy trình điều tra xử lý vi phạm giao thông về việc nhận tin và xử lý thông tin tai  nạn như sau:

 

" 1. Nhận tin:

Khi nhận được tin báo có vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, cán bộ, chiến sỹ nhận tin phải hỏi rõ và ghi vào sổ nhận tin các thông tin sau:

a) Họ tên, địa chỉ, số điện thoại (nếu có) của người báo tin;

b) Thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn (ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, tại km, đường, thuộc thôn (phố), xã (phường, thị trấn), huyện (quận, thành phố thuộc tỉnh), tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương);

c) Phương tiện giao thông có liên quan đến tai nạn (biển số xe, loại xe, màu sơn);

d) Họ tên, địa chỉ của người điều khiển phương tiện giao thông liên quan đến tai nạn;

đ) Họ tên, địa chỉ những người liên quan hoặc người biết vụ tai nạn xảy ra;

e) Thiệt hại ban đầu về người, tài sản (số người chết, bị thương và phương tiện bị phá hủy hoặc hư hỏng);

g) Những thông tin khác về vụ tai nạn giao thông.

 

2. Xử lý tin:

Cán bộ, chiến sỹ nhận tin phải báo cáo ngay vụ tai nạn giao thông đường bộ cho lãnh đạo trực chỉ huy đơn vị biết. Lãnh đạo trực chỉ huy đơn vị khi nhận được báo cáo phải xử lý nhaư sau:

a) Tổ chức lực lượng cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hiện trường, giải tỏa ùn tắc giao thông:

- Trường hợp Cục C26 nhận được tin báo vụ tai nạn giao thông thì điện cho Phòng Cảnh sát giao thông nơi xảy ra tai nạn để giải quyết;

- Trường hợp PC26 hoặc Đội, Trạm thuộc PC26 nhận được tin báo vụ tai nạn giao thông xảy ra trên tuyến giao thông được phân công tuần tra kiểm soát hoặc gần trụ sở cơ quan thì cử cán bộ đến hiện trường giải quyết;

- Trường hợp Công an quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nhận được tin báo vụ tai nạn giao thông thuộc địa bàn của mình thì cử cán bộ, chiến sĩ đến hiện trường giải quyết;

b) Khi nhận được báo cáo hoặc khi Cảnh sát giao thông xác định:

- Vụ tai nạn giao thông có người chết tại hiện trường (kể cả chết trên đường đi cấp cứu) thì phải báo ngay cho đơn vị Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội thụ lý điều tra theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Quy định phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Cảnh sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 768/2006/QĐ-BCA (C11) ngày 20/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Công an (dưới đây gọi tắt là Quy định 768/2006/QĐ-BCA (C11);

- Vụ tai nạn giao không có người chết tại hiện trường thì phải cử ngay cán bộ, chiến sỹ hoặc báo ngay cho đơn vị Cảnh sát giao thông thụ lý điều tra theo quy định tại Điều 7 Quy định 768/2006/QĐ-BCA (C11);

- Trường hợp liên quan đến người nước ngoài, thì thông báo cho Sở Ngoại vụ; liên quan đến người, phương tiện của Quân đội thì thông báo cho cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền trong Quân đội để biết và phối hợp với lực lượng Cảnh sát thực hiện công tác điều tra ban đầu.

c) Trường hợp vụ tai nạn giao thông đường bộ liên quan đến phương tiện giao thông đường sắt thì giải quyết theo Chương II Quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt;

d) Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm có liên quan đến hiện trường để phối hợp giải quyết hậu quả vụ tai nạn."

Như vậy, khi nhận tin CSGT phải đảm bảo thực hiện được những nhiệm vụ nêu trên.

Cụ thể, những việc mà CSGT phải làm ngay khi đến hiện trường được quy định tại Điều 4 Quyết định trên như sau:

" Cảnh sát giao thông hoặc các lực lượng Cảnh sát khác khi đến nơi xảy ra tai nạn giao thông cần làm ngay những việc sau:

1. Tổ chức cấp cứu người bị nạn:

a) Đánh dấu vị trí người bị nạn trước khi đưa đi cấp cứu

Trường hợp sử dụng phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn giao thông để đưa người bị nạn đi cấp cứu phải đánh dấu vị trí của phương tiện, sơ bộ ghi nhận các dấu vết trên phương tiện, tạm giữ giấy tờ của phương tiện và giấy tờ của người điều khiển phương tiện;

b) Đánh dấu vị trí người bị nạn đã chết và che đậy nạn nhân;

Trường hợp người bị nạn đã chết có thể gây ùn tắc giao thông, ảnh hưởng đến sự đi lại, thì đánh dấu vị trí người bị nạn rồi đưa vào lề đường che đậy lại.

2. Kiểm tra, tạm giữ giấy tờ của người và phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông; trường hợp phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn giao thông có thể gây ùn tắc giao thông, ảnh hưởng sự đi lại thì đánh dấu vị trí phương tiện giao thông, sơ bộ ghi nhận các dấu vết trên phương tiện rồi đưa vào vị trí thích hợp để bảo quản.

3. Tổ chức bảo vệ hiện trường:

a) Khoanh vùng bảo vệ hiện trường, có biện pháp bảo quản tài sản, tư trang của người bị nạn, hàng hóa trên phương tiện liên quan đến tai nạn (khi bảo vệ hiện trường chú ý không làm xáo trộn hiện trường);

b) Quan sát để phát hiện và ghi nhận sơ bộ các dấu vết, đồ vật để lại trên hiện trường, trên các phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; ghi nhận những thay đổi ở hiện trường trong quá trình tổ chức cấp cứu người bị nạn;

c) Tìm những người biết vụ tai nạn xảy ra; ghi rõ họ tên, số chứng minh nhân dân, địa chỉ thường trú, số điện thoại (nếu có) của người biết vụ tai nạn hoặc đề nghị người biết vụ tai nạn giao thông viết bản tường trình phục vụ công tác điều tra;

4. Tổ chức giao thông:

a) Trường hợp hiện trường vụ tai nạn giao thông không ảnh hưởng nhiều đến việc lưu thông của các phương tiện giao thông thì tổ chức hướng dẫn giao thông không để xảy ra ùn tắc;

b) Trường hợp hiện trường vụ tai nạn giao thông gây ùn tắc thì báo cáo lãnh đạo chỉ huy đơn vị của mình, phòng Cảnh sát giao thông nơi xảy ra tai nạn có phương án tăng cường lực lượng, phương tiện, phân luồng giao thông để giải quyết.

5. Trường hợp người gây tai nạn giao thông bỏ chạy thì vẫn phải thực hiện theo trình tự tại các khoản 1, 2, 3 nêu trên; đồng thời tổ chức truy tìm theo Điều 27 của Quy trình này.

6. Khi bộ phận khám nghiệm đến hiện trường, thì bàn giao lại những công việc đã làm ở hiện trường cho bộ phận khám nghiệm, đồng thời tiếp tục bảo vệ hiện trường và thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 2 hoặc điểm a, b khoản 3 Điều 7 Quy định 768/2006/QĐ-BCA(C11) cho đến khi khám nghiệm xong."

Trong trường hợp của bạn: thì việc công an chỉ đánh dấu vị trí gây tai nạn mà không dánh dấu vị trí của bố bạn  nằm trước khi đưa đi cấp cứu là sai quy trình. Ngoài ra, việc ghi lại lời khai, lập biên bản được quy định như sau:

" Điều 11. Dựng lại hiện trường

1. Trong quá trình điều tra vụ tai nạn giao thông nếu có căn cứ xác định hiện trường bị xáo trộn, hiện trường giả hoặc xét thấy cần thiết thì tổ chức dựng lại hiện trường. Khi dựng lại hiện trường nhất thiết phải có người chứng kiến, có thể mời người liên quan cùng tham gia.

2. Nội dung dựng lại hiện trường là phải xác định lại vị trí dấu vết, người bị nạn, phương tiện để lại ở hiện trường, xem xét lại những tình huống, hành vi và những tình tiết khi xảy ra vụ tai nạn giao thông; đo đạc và vẽ lại sơ đồ hiện trường; chụp ảnh để làm cơ sở so sánh đối chiếu.

3. Kết thúc việc dựng lại hiện trường phải lập biên bản, những người tham gia dựng lại hiện trường ký, ghi rõ họ, tên vào biên bản.

Điều 12. Ghi lời khai

1. Ghi lời khai của những người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan:

Nội dung lời khai phải làm rõ vị trí của phương tiện giao thông trên mặt đường, hướng chuyển động, tốc độ, các thao tác kỹ thuật, những nhận biết trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn... Nếu phát hiện người điều khiển phương tiện khai chưa đúng, mâu thuẫn với dấu vết ở hiện trường, ở phương tiện, mâu thuẫn với lời khai của người bị nạn, người làm chứng... thì phải kiểm tra, xác minh, nghiên cứu đặt câu hỏi cho phù hợp để làm rõ sự thật về vụ tai nạn giao thông.

2. Ghi lời khai của người bị nạn và người có liên quan khác trong vụ tai nạn giao thông:

a) Trường hợp người bị thương nặng thì chỉ lấy lời khai khi được cán bộ y tế điều trị và người đó đồng ý; cần đặt câu hỏi ngắn gọn;

Nếu người đó có thể tử vong thì phải lấy sinh cung ngay. Trường hợp người bị nạn không thể nói được thì phải lập biên bản về việc đó và có xác nhận của cán bộ y tế điều trị;

b) Nội dung lời khai của người có liên quan phải bảo đảm khách quan, tỉ mỉ phản ánh tính hình trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn giao thông. Sau cùng phải hỏi họ nhận thức về vụ tai nạn gian thông đã xảy ra như thế nào.

3. Ghi lời khai của những người làm chứng:

a) Trường hợp có nhiều người làm chứng thì lấy lời khai của từng người;

Nội dung lời khai phải thể hiện được:

- Vị trí của người làm chứng (hướng nhìn, tầm nhìn xa, khoảng cách giữa người làm chứng đến nơi xảy ra tai nạn), họ có chú ý đến sự việc hay không, do đâu mà họ biết về vụ tai nạn;

- Hướng chuyển động của các bên liên quan đến tai nạn (người và phương tiện);

- Phần đường và tốc độ, thao tác xử lý của người điều khiển phương tiện trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn, những tiếng động do va chạm giữa các phương tiện;

- Phản ứng của những người có liên quan trước khi xảy ra tai nạn;

- Vị trí của các phương tiện, người, đồ vật sau khi xảy ra tai nạn, vị trí đó có bị thay đổi không, nếu có thay đổi, xê dịch thì ai làm điều đó, vì sao;

- Trạng thái tâm lý của người gây tai nạn biểu hiện ra bên ngoài (ảnh hưởng của chất kích thích rượu, bia...);

- Các vấn đề khác có liên quan đến vụ tai nạn mà họ biết, còn ai biết về vụ tai nạn xảy ra;

- Tổ chức cho người làm chứng thực nghiệm xác định tính khách quan, xác thực về lời khai (nếu thấy có mâu thuẫn trong lời khai của người làm chứng).

b) Cảnh sát giao thông có thế đến nơi ở, nơi làm việc của người làm chứng để lấy lời khai. Đối với trẻ em dưới 16 tuổi khi ghi lời khai phải mời cha, mẹ, người đại diện hợp pháp hoặc thầy, cô giáo của người đó tham dự và ký tên vào biên bản.

4. Việc ghi lời khai của người liên quan và người làm chứng trong vụ tai nạn giao thông phải được lập biên bản theo đúng quy định của pháp luật."

Như vậy, trong biên bản vụ tai nạn phải có chữ kí của những người tham gia dựng lại hiện trường; người có liên quan đến tai nạn và những người làm chứng. Trong trường hợp có người nhà của bạn thuộc các trường hợp trên mà công an không lấy chữ kí của người đó thì là sai quy định.

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì CSGT đã không thực hiện đầy đủ thủ tục điều tra, xử lý tai nạn giao thông theo quy định. Bạn có thể thực hiện thủ tục khiếu nại nếu không đồng ý với quyết định hoặc hành vi hành chính này. Thủ tục khiếu nại được quy định cụ thể trong Luật khiếu nại năm 2011 như sau:

Về trình tự khiếu nại (Luật khiếu nại 2011)được quy định tại khoản 1 Điều 7:

" 1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính."

Về hình thức khiếu nại quy định tại Điều 8:

"1. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại; tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

3. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì thực hiện như sau:

a) Trường hợp nhiều người đến khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Việc tiếp nhiều người cùng khiếu nại thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật này;

b) Trường hợp nhiều người khiếu nại bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của những người khiếu nại và phải cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại;

c) Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

5. Trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải là một trong những người khiếu nại, có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo quy định của Luật này."

Về thời hiệu khiếu nại được quy định tại Điều 9:

"Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại."

Về Trách nhiệm của người gây tai nạn:

Mức và loại hình phạt còn tùy thuộc vào tính chất của vụ tai nạn bao gồm: hành vi, lỗi...của người gây tai nạn và nạn nhân căn cứ vào kết quả điều tra, khám nghiệm hiện trường, thêm vào đó là tình trạng sức khỏe của nạn nhân. Cụ thể:

- Nếu hành vi gây tai nạn được xác định có dấu hiệu tội phạm quy định tại Bộ luật hình sự thì sẽ bị xử lý theo quy định của luật này tùy vào tội phạm.

- Nếu hành vi gây tai nạn được xác định không có dấu hiệu tội phạm thì sẽ bị xử lý theo quy định tại Nghị định 171/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt

Nguyên tắc bồi thường được thực hiện theo quy định tại Điều 610 Bộ luật dân sự như sau:

" 1- Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2- Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Như vậy, hai bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại. Nếu không thỏa thuận được bạn có thể căn cứ vào các quy định xác định thiệt hại tại các điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều  615, Điều 616  Bộ Luật dân sự năm 2005 để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

>>  Xem thêm:  Trách nhiệm của công an giao thông trọng vụ tai nạn giao thông đường bộ ?

2. Cách xử phạt và giải quyết tai nạn giao thông đường bộ ?

Em xin chào luật sư ! Mong luật sư tư vấn giúp em trường hợp như sau: Ngày 12 tháng 7 lúc 12h35p em có điều khiển xe từ hướng Cần Thơ về Rạch Giá qua đoạn đường ngoại ô thuộc xã Thạch Lộc thì khi em chạy phía bên lề phải em nhìn thấy có 2 em bên lề trái . 

1 em khoảng 19 tuổi đi bên ngoài, 1 em khoảng 3-4 tuổi đi bên trong nhưng không đi sát đường mà hơi ra lề đường khi điều khiển tới gần 2 bé thì bé nhỏ đột nhiên xông qua đường nhưng vì nhanh quá mặc dù em chạy khoảng 35-40km nhưng vẫn không thắng kịp và va chạm phải em bé lăn vào đường và bị trầy ở mặt. Khi em dừng được xe và nghiêng xe xuống đường thì chạy lại em bé ẳm em bé và em có hỏi bệnh viện đâu thì được những người nhân chứng gần đó chở em bé đi. Còn bạn đi cùng em bé thì xỉu và em đỡ bạn đó dậy. Sau đó, có 1 chú bảo vệ dân phòng chạy lại, em nhờ chú đó chở tới công an xã Thạnh Lộc và tường trình vụ việc xảy ra với công an. Nhưng do chủ nhật nên 1h25 em mới cho lời khai về vụ việc. Các anh công an đó đi lại nơi xảy ra và chạy xe em về công an xã và chỉ nói chờ bên em bé bị thương không sao thì sẽ trả xe về! Từ tối ngày12, khi em về đã đến bệnh viện thăm và đến ngày 14 tháng 7 thì em bé xuất viện không sao chỉ bị thương ngoài da. Ngày 16 tháng 7 em có lên công an xã làm việc và hòa giải thì bên em bé không chịu mức hỗ trợ tiền thuốc là 300k nên đã lập đơn đưa lên tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng. Vậy em phải làm gì? Và công an xã có quyền giữ phương tiện khi đã đưa lên cấp trên không ?

Em xin chân thành cảm ơn !

 

Luật sư Lê Minh Trường trả lời VOV2 về hành vi bỏ chạy khi gây tai nạn giao thông

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo quy định tại Điều 604 của Bộ luật Dân sự thì “người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”
Mức bồi thường sẽ do hai bên thỏa thuận. Nếu không nhất trí thì có thể khởi kiện lên Tòa án. Tòa án sẽ xác định mức bồi thường, căn cứ theo
Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:


"1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm
Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:
1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).
1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.
a) Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.
- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS.
b) Xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại được thực hiện như sau:
Bước một: Xác định thu nhập thực tế của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị có hay không. Nếu có thì tổng số thu nhập là bao nhiêu.
Bước hai: Lấy tổng số thu nhập thực tế mà người bị thiệt hại có được trong thời gian điều trị so sánh với thu nhập thực tế tương ứng được xác định theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 1.2 này. Nếu không có khoản thu nhập thực tế nào của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị mất; nếu thấp hơn thì khoản chênh lệch đó là thu nhập thực tế của người bị thiệt hại bị giảm sút; nếu bằng thì thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không bị mất.
Ví dụ 1: A làm nghề sửa xe máy tự do. Thu nhập thực tế của A trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là một triệu đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, A phải điều trị nên không có khoản thu nhập nào. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của A bị mất.
Ví dụ 2: B làm công cho một công ty trách nhiệm hữu hạn. Thu nhập thực tế của B trước khi sức khoẻ bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 600 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50% tiền lương là 300 ngàn đồng. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của B mỗi tháng bị giảm sút 300 ngàn đồng.
Ví dụ 3: C là công chức có thu nhập hàng tháng ổn định 500 ngàn đồng. Do sức khoẻ bị xâm phạm, C phải điều trị và trong thời gian điều trị cơ quan vẫn trả đủ các khoản thu nhập cho C. Trong trường hợp này thu nhập thực tế của C không bị mất.
1.3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.
a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.
b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:
- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.
- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.
- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.
- Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.
1.4. Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.
a) Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.
b) Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.
1.5. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

 a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.

b) Trong mọi trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…

c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường."

Về việc tạm giữ xe máy trong trường hợp của bạn:

Khoản 1, Điều 10 Quyết định 18/2007/QĐ-BCA(C11) Quy trình điều tra giải quyết tai nạn giao thông đường bộ có quy định như sau:

Điều 10. Tạm giữ phương tiện giao thông và người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan
1. Tạm giữ phương tiện giao thông có liên quan:
a) Khi vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, các phương tiện giao thông có liên quan đều phải được tạm giữ để phục vụ công tác khám nghiệm, điều tra giải quyết (trừ các phương tiện giao thông ưu tiên theo quy định). Việc tạm giữ phương tiện giao thông phải được lập biên bản, ghi rõ tình trạng phương tiện bị tạm giữ;
b) Trường hợp vụ tai nạn giao thông đường bộ có dấu hiệu tội phạm thì đơn vị Cảnh sát giao thông tạm giữ phương tiện có trách nhiệm bàn giao phương tiện bị tạm giữ cùngvới hồ sơ vụ án cho đơn vị điều tra tội phạm về trật tự xã hội có thẩm quyền;
c) Trường hợp tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm thì phương tiện giao thông bị tạmgiữ được xử lý như sau:
- Đối với vụtai nạn sau khi khám nghiệm phương tiện xong, xác định người điều khiển phương tiện không có lỗi thì phương tiện phải được trả ngay cho chủ sở hữu hoặc người điều khiển phương tiện;
- Các trườnghợp khác việc tạm giữ phương tiện phải thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Chú ý: Khi tạm giữ và trả phương tiện phải có quyết định và biên bản theo quy định của pháp luật.

Như vậy, công an có quyền tạm giữ phương tiện giao thông có liên quan đến tai nạn nhưng khi tạm giữ và trả phương tiện phải có quyết định và biên bản theo quy định của pháp luật.   

>> Tham khảo thêm:  Gây thiệt hại về tài sản khi tai nạn giao thông có bị truy cứu ?

3. Mức Bồi thường về tai nạn giao thông ? 

Em chào luật sư! Chồng em lái xe đi đúng phần đường quy định và chạy với vận tốc 39km/h. Bỗng có 1 anh công nhân làm đường đứng trên giải phân cách cứng bằng bê tông cao 80cm và nhảy qua đầu xe. Kết quả là đầu xe chỗ biển số xe bị bẹp và rách. Kính bên ghế tài xế bị vỡ. Người công nhân đó bắn ra bên đường phía tài xế ngồi và đập đầu xuống đường. 

Ngay lập tức chồng em phanh và dừng xe lại. Người công nhân đó được mọi người đưa vào viện được 2 tiếng thì mất. Công an cũng đến hiện trường lập biên bản đo đạc hiện trường và lấy lời khai của nhân chứng. (chồng em chỉ là người lái xe thuê ăn lương theo chuyến). Hôm sau nhà xe có gửi 5 triệu đồng cho gia đình anh ta gọi là tiền hương khói. Hôm sau công an gọi nhà xe và chồng em tới giải quyết thì họ nói là để 2 gia đình giải quyết tình cảm. Nhà em đã về quê anh ta đưa tiếp 15 triệu nữa nhưng cuộc nói chuyện đó nhà anh ta đòi đền bù 150 triệu. Luật sư cho em hỏi:

1, Việc bồi thường cho gia đình anh ta là do nhà xe hay chồng em?

2, Chồng em sai hay anh ta sai?

3, Nhà anh ta đòi bồi thường 150 triệu là đúng hay sai? 

Em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo Điều 604 Bộ luật dân sự 2005  quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. 

Trong trường hợp này, việc bồi thường sẽ được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 và Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. 

Câu 1:

Xe ô tô được coi là nguồn nguy hiểm cao độ theo khoản 1 Điều 623 và điểm 13 điều 3 luật giao thông đường bộ và chồng bạn là người chiếm hữu, sử dụng ô tô hợp pháp.
Theo khoản 2,3 Điều 623 BLDS:
2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì những người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
3. Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ các trường hợp sau đây:
a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Điểm đ khoản 1 mục III nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP quy định:

đ) Nếu chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ đã giao nguồn nguy hiểm cao độ cho người khác mà gây thiệt hại thì phải xác định trong trường hợp cụ thể đó người được giao nguồn nguy hiểm cao độ có phải là người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hay không để xác định ai có trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Ví dụ: A là chủ sở hữu xe ô tô đã giao xe ô tô đó cho B. B lái xe ô tô tham gia giao thông đã gây tai nạn và gây thiệt hại thì cần phải phân biệt:

- Nếu B chỉ được A thuê lái xe ô tô và được trả tiền công, có nghĩa B không phải là người chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà A vẫn chiếm hữu, sử dụng; do đó, A phải bồi thường thiệt hại.

- Nếu B được A giao xe ô tô thông qua hợp đồng thuê tài sản, có nghĩa A không còn chiếm hữu, sử dụng xe ô tô đó mà B là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp; do đó, B phải bồi thường thiệt hại. Nếu trong trường hợp này được sự đồng ý của A, B giao xe ô tô cho C thông qua hợp đồng cho thuê lại tài sản, thì C là người chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe ô tô đó; do đó, C phải bồi thường thiệt hại.

Căn cứ vào quy định trên, do bạn cung cấp thông tin chồng bạn là người lao động của công ty nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ thuộc về công ty của chồng bạn, trừ trường hợp chồng bạn thỏa thuận với công ty là chồng bạn sẽ chịu trách nhiệm.

Câu 2

Công ty của Chồng bạn hoặc chồng bạn có nghĩa vụ phải bồi thường cho gia đình người bị hại kể cả khi không có lỗi. Tuy nhiên, Công ty của chồng bạn hoặc chồng bạn sẽ không phải bồi thường nếu đưa ra bằng chứng chứng minh được:

- Thiệt hại xảy ra là hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;
Ví dụ:Xe ô tô đang tham gia giao thông theo đúng quy định của pháp luật, thì bất ngờ có người lao vào xe để tự tử và hậu quả là người này bị thương nặng hoặc bị chết. Trong trường hợp này chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao chiếm hữu, sử dụng hợp pháp xe ô tô đó không phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ (xe ô tô) gây ra.
- Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Cần chú ý là trong trường hợp pháp luật có quy định khác về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật đó.

Câu 3

Về mức bồi thường, các bên sẽ thỏa thuận mức bồi thường. Nếu không thống nhất được mức bồi thường, đương sự có quyền khởi kiện lên Tòa án  yêu cầu xác định mức bồi thường.

Theo Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP về việc xác định các khoản bồi thường như sau:

 2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.
2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...
2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.
a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.
Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.
b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.
- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;
- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;
- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;
 - Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
2.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.
a) Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại.
b) Trường hợp không có những người được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 này, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại.
c) Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại…
d) Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

>> Xem thêm:  Quy trình xử lý khi xảy ra tai nạn Giao thông đường bộ ?

4. Tư vấn bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê,cháu chào Luật sư. Gia đình cháu đang gặp một vấn đề rất muốn nhờ luật sư tư vấn giúp ạ. Vào tối ngày 11/1, em trai cháu điều khiển xe máy đi đúng làn đường ưu tiên, đến đoạn nghĩa trang thì chỗ đó khá tối đột nhiên phát hiện một ông cụ (tầm 70 tuổi) dắt xe đạp đi ngang đường (chỗ ông cụ dắt xe là nơi các xe quay đầu, không có vạch vôi dành cho người đi bộ sang đường). 

Do tránh ông cụ nên em trai cháu đã phanh gấp nên bị ngã xuống đường, ngất phải đi cấp cứu ở viện 198, bị khâu 5 mũi ở đầu, sạt má và mắt phải, hiện tại thị lực kém và mất trí nhớ tạm thời. Về phần ông cụ ngay tại thời điểm đó thì không sao (theo người nhà báo lại vào tối hôm xảy ra tai nạn), xe đạp của ông cụ cũng không vấn đề gì còn xe máy của em trai cháu bị hỏng nặng. Công an giao thông mấy ngày hôm nay giục giã gia đình nhiều lần đến để giải quyết và hòa giải với nhà kia nhưng vì phải lo cho em trai nên gia đình cháu chưa đến được. Ý của công an giao thông là hai gia đình giải quyết tình cảm nên hai gia đình cũng đã gọi điện hỏi han nhau nhưng gia đình kia không thiện chí bồi thường thiện hại. Bây giờ luật sư tư vấn giúp cháu làm rõ lỗi hai bên. nếu gia đình cháu muốn yêu cầu bồi thường thì mức bồi thường có thể là như thế nào ạ? Nếu gia đình kia không đồng ý bồi thường thì nên giải quyết như thế nào ạ? Cháu cảm ơn luật sư nhiều? Cháu mong phản hồi từ luật sư sớm ạ vì chi phí chạy chữa cho em trai đang là vấn đề lớn với gia đình.

Cháu xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, giao thông trực tuyến, gọi: 1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 Xác định lỗi khi xảy ra tai nạn giao thông và trách nhiệm bồi thường thường thiệt hại.

Điều 308 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự: 

"1. Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

2. Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được."

Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật thì ông cụ có lỗi vô ý. Yếu tố vô ý trong lỗi vô ý thể hiện ở chỗ chủ thể hoàn toàn không có chủ ý gây thiệt hại cho xã hội. Người có hành vi gây thiệt hại được xác định là có lỗi vô ý nếu họ không thấy trước được hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại mặc dù họ phải biết hoặc có thể biết trước được thiệt hại sẽ xảy ra khi họ thực hiện hành vi đó nhưng cho rằng thiệt hại đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

Tình huống này phát sinh vấn đề: trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết và được giải quyết dựa vào Điều 262 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về nghĩa vụ của chủ sở hữu trong trường hợp xảy ra tình thế cấp thiết và Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết. 

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong tình thế cấp thiết: Theo quy định tại khoản 1 Điều 262 Bộ luật Dân sự năm 2005, tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ trực tiếp lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải có hành động gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn. 
Trong trường hợp này, vì muốn tránh gây tai nạn cho ông cụ, em trai bạn đã không còn cách nào khác là phải phanh gấp xe, do vậy, đã bị ngã và bị thiệt hại. Sự việc xảy ra trong một hoàn cảnh bất khả kháng, ngoài ý muốn chủ quan của em trai bạn. Nếu không kịp tránh, em trai bạn chắc chắn đâm xe vào ông cụ, hậu quả sẽ không lường trước được cho cả em trai và ông cụ. Như vậy, em trai bạn đã gây ra thiệt hại cho chính bản thân trong tình thế cấp thiết nên em trai bạn sẽ không có lỗi.

Xác định người bồi thường thiệt hại cho em trai bạn : Ông cụ đã dắt xe sang đường không đúng nơi quy định,ở chỗ quay đầu xe và không có vạch vôi cho người đi bộ .Do đó, ông cụ đã có lỗi do vi phạm Luật Giao thông đường bộ, mà còn là người gây ra tình thế cấp thiết. Trong trường hợp này,theo khoản 3 Điều 614 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định, người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Như vậy, ông cụ là người phải bồi thường thiệt hại cho em trai bạn và hai người có thể tự thoả thuận với nhau về mức độ bồi thường.Trong trường hợp nếu bên phía ông cụ không chịu bồi thường thì gia đình bạn có thể làm đơn khởi kiện lên cơ quan có thẩm quyển yêu cầu bảo vệ lợi ích và quyền lợi của mình.

>> Xem thêm:  Mẫu đơn yêu cầu bồi thường trong vụ án hình sự viết như thế nào?

5. Xác định mức bồi thường do bị tai nạn giao thông ?

Thưa Luật sư, chiều mùng 3 tết bố tôi (47 tuổi) chở mẹ và em trai (12 tuổi) đi về nhà trên đường Ql13 tới khúc cổng chào K57 thì có một người đàn ông trung tuổi uống rượu say chạy ngược chiều với tốc độ nhanh tông trực diện vào gia đình tôi khiến bố tôi chết tại chỗ em trai bi thương nặng gãy 5 cái răng mẹ bi thương ở tay đươc cảnh sát giao thông giám định bên kia chạy xe sai hoàn toàn. Tôi muốn nhờ luật sư vấn dùm tôi về vấn đề chi phí bồi thường là bao nhiêu khi bố tôi là người lao động chính trong nhà...và thủ tục lấy xe máy ra từ cảnh sát giao thông ? 

Tôi xin trân thành cảm ơn!

Người gửi: H.L

Xác định mức bồi thường do bị tai nạn giao thông ?

Chào bạn! vấn đề của bạn Luật Minh khuê xin được trả lời như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì người đàn ông trung tuổi uống rượu say chạy ngược chiều với tốc độ nhanh tông trực diện vào gia đình tôi khiến bố tôi chết tại chỗ em trai bi thương nặng gãy 5 cái răng mẹ bị thương ở tay đươc cảnh sát giao thông giám định bên kia chạy xe sai hoàn toàn. Như vậy căn cứ theo quy định tại Điều 609, Điều 610 Bộ luật dân sự 2005 thì người đó phải bồi thường cho gia đình bạn như sau:

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định

Ngoài ra tai nạn làm cho bố bạn bị mất như vậy có thiệt hại về tính mạng nên theo Điều 610 thì người đó còn phải bồi thường như sau:

Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Ngoài ra tại Điều 612 còn quy định người gây thiệt hại còn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho người à bố bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng. Cụ thể như sau:

Điều 612. Thời hạn hưởng bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm

1. Trong trường hợp người bị thiệt hại mất hoàn toàn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường cho đến khi chết.

2. Trong trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi còn sống được hưởng tiền cấp dưỡng trong thời hạn sau đây:

a) Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn sống sau khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ mười tám tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ nuôi sống bản thân;

b) Người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.

Trong trường  hợp này xe của gia đình bạn là vật chứng trong vụ án hình sự nên giải quyết như sau:

Vì người đó gây tai nạn giao thông làm em trai bạn bị thương và bố bạn mất  nên theo quy định tại Điều 202 BLHS 2009 thì trong trường hợp này chiếc xe là vật chứng trong vụ án hình sự nên theo quy định tại Điều 76 BLTTHS có quy định như sau:

Điều 76. Xử lý vật chứng

1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

2. Vật chứng được xử lý như sau:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ;

b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;

c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật;

đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại gọi1900 6162

>> Tham khảo bài viết liên quan:  Lái xe uống rượu say, điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông xử lý như thế nào ?

6. Tư vấn về bồi thường thiệt hại khi bị tai nạn giao thông ?

Kính thưa Luật sư! Cho em được hỏi: Anh trai em tham gia giao thông không đội mũ bảo hiểm đi bên phải đường của mình thì đột nhiên va chạm với ô tô 4 chỗ đi ngược chiều đâm vào. Hiện tai anh trai em đang năm điều trị tại Bệnh viện đa khoa do bị chấn thương não và mổ cấp cứu 7 ngày rồi vẫn chưa tỉnh theo nhận định của bác sỹ Và sau này khó có thể bình phục và mất khả năng sinh hoạt và lao động. Hiện gia đình bên kia chưa có hỗ trợ thăm hỏi về kinh tế và chỉ bằng lời hỏi thăm (2 bên có quan hệ họ hàng với nhau) Theo luật sư gia đình em phải làm như thế nào để có thể đươc bảo vệ quyền lợi? Cảm ơn!

Tư vấn về bồi thường thiệt hại khi bị tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn Luật Dân sự về bồi thường, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Theo thông tin  bạn cung cấp  thì anh bạn bị chấn thương khá nặng. Tuy nhiên chúng tôi chưa biết mức độ suy giảm sức khỏe của anh bạn như nào nên không thể tư vấn cụ thể cho bạn. Mặc dù bạn muốn đang giải quyết tình cảm vì hai gia đình có họ hàng với nhau nhưng nếu hành vi của người gây tai nạn có đủ yếu tố cấu thành Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông được bộ gây tai nạn giao thông thì người đó vẫn bị truy cứu Trách nhiệm hình sự theo Điều 202 BLHS không phụ thuộc vào việc anh trai bạn có làm đơn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự hay không theo quy định tại Điều 105 BLHS 2009. Bên cạnh đó thì người gây tai nạn cũng phải bồi thường cho anh trai bạn khi gây thiệt hại cho sức khỏe theo Điều 609 BLDS 2005. Theo đó, Điều 609 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội quy định:

"Điều 609. Thiệt hại do sức khỏe vi phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c)Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Trường hợp này gia đình bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu gia đình kia phải bồi thường thiệt hại, mức bồi thường hai bên có thể thỏa thuận nhưng phải hợp lý so với chi phí hợp lý cho việc cứu chữa cũng như các khoản phát sinh khác. Hơn nữa, trong vụ việc tai nạn giao thông này một phần do anh trai bạn cũng có lỗi nên mức thiệt hại trên thực tế này, việc thỏa thuận chia khoản bồi thường này cũng phải dựa trên mức độ lỗi của hai bên.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có đặc điểm pháp lý và hình phạt như thế nào ?

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê