1. Trách nhiệm hình sự của người gây tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Chú tôi có gây tai nạn giao thông xảy ra chết người, trong người chú tôi có nồng độ cồn vượt mức cho phép. Gia đình tôi có khắc phục hậu quả. Cho tôi hỏi chú tôi có bị phạt tù hay không? Cảm ơn!

Trách nhiệm hình sự của người gây tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn quy định của pháp luật giao thông đường bộ - Ảnh minh họa

 

Luật sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê, chúng tôi giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Căn cứ Điều 260 bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ có quy định như sau:

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Như vậy, chú của bạn gây tai nạn trong tình trạng say rượu, đồng thời gây thiệt hại tính mạng cho 01 người nên chú của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, chú của bạn còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Nếu gia đình chú của bạn đã chủ động bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả thì đây sẽ là tình tiết giúp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho chú của bạn.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo không mang tính chất thương mại.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

>> Xem ngay:  Tai nạn giao thông gây chết người hai bên gia đình có thể tự hòa giải không liên quan đến pháp luật được không ?

2. Tai nạn giao thông gây chết người ?

Thưa luật sư. Anh tôi năm nay 30 tuổi, có 1 đứa con nhỏ 19 tháng tuổi và có vợ đang mang thai đứa con thứ 2. Thật không may khi chỉ cách đây ít ngày anh tôi đang điều khiển xe máy trên đường thì bị 1 chiếc container chở xi măng lưu thông cùng chiều mất lái kéo lê và đè anh tôi tử vong tại chỗ. Đây là nỗi mất mát quá lớn của gia đình tôi, bây giờ gia đình chúng tôi muốn khởi kiện người điều khiển chiếc container kia thì thủ tục phải thế nào thưa luật sư và người tài xế phải chịu trách nhiệm như thế nào đối với sự việc đó, và bồi thường thiệt hại cũng như trách nhiệm đối với 2 đứa con chưa đủ 18 tuổi của anh tôi thưa luật sư. Kính mong luật sư tư vấn và hướng dẫn cho chúng tôi làm các thử tục cần thiết ?
Xin cảm ơn luật sư.
- Cao Ngọc Sơn

3. Gây tai nạn giao thông do chạy quá tốc độ cho phép có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chỉ phải bồi thường ?

Thưa luật sư, Em điều khiển xe máy chạy quá tốc độ 70km/giờ quy định cho phép là 50km/giờvà gây tai nạn cho 1 người cùng đi trên đường, người này đi đúng quy địnhnhưng không đội mũ bảo hiểm và bị té ngã đập đầu xuống đường. Được ngườidân đưa vào viện và bác sĩ chẩn đoán là chấn thương ở đầu, chi phí điều trịlà 20 triệu. Người nhà bị hại nói em phải bồi thường toàn bộ chi phí, nhưngngười kia cũng không đội mũ bảo hiểm. Nếu đội mũ bảo hiểm có thể bị nhẹ hơnnên quan điểm của em nói với người nhà bị hại là em chỉ bồi thường 1 nửa. Công ty luật minh khuê có thể cho em biết em có phải bồi thường không. Và có bị xử lý hình sự không ?
Cảm ơn!
- Đức Minh

4. Xác định lỗi và mức bồi thường tai nạn giao thông khi hiện trường giao thông không còn ?

Thưa luật sư, Mong luật sư tư vấn cho tôi vấn đề sau: Cách đây 2 ngày khi tôi đang lưu thông trên đường và có 1 xe máy đi song song với tôi, sau đó tôi có xi nhan và tuýt còi xin vượt rẽ phải, còn xe kia rẽ trái, Khi tôi vượt xe lên thì xe máy kia chạm vào đuôi xe tôi rồi đổ ra đường, điều khiển xe là một người đàn ông 65 tuổi. 

Tôi có dựng xe lại đưa cụ vào lề đường hỏi han cụ, người đi đường thấy 2 xe ở đường nên đã dắt gọn vào lề đường, sau đó tôi có gọi người nhà đến đưa cụ vào viện chiếu chụp và kết quả là cụ bị dạn xương vai, sau đó cụ vẫn đi lại bình thường chỉ nẹp bao cố định trên phần vai.Khi vào viện thì bệnh viện có thông báo cho tôi là cụ đang có bệnh án trong viện điều trị xạ ung thư nhưng buổi sáng trốn ra ngoài có việc riêng nên xảy ra tình trạng đáng tiếc trên. Tôi có thăm hỏi và biếu cụ chút bồi dưỡng, nhưng người nhà cụ không đồng ý, họ yêu cầu tôi đến viện chăm nom khi nào cụ khỏi thì thôi hoặc bỏ tiền ra thuê người chăm sóc vì con cái cụ bận đi làm không chăm được,ngoài ra cụ cũng đòi hỏi thuê y tá về nhà thuốc thang điều trị riêng. Gia đình cụ không đưa ra 1 mức đền cụ thể và nói đây là giải quyết tình cảm.

Tôi có thắc mắc, khi tham gia giao thông có va chạm mà giải quyết tình cảm mà tôi thấy không thỏa đáng thì tôi còn có cách giải quyết khác không? Ông cụ đã nhiều tuổi lại đang có bệnh án khi tham gia giao thông có vi phạm gì không? Bây giờ tôi muốn đưa ra pháp luật giải quyết thì có bất lợi cho tôi không? hiện trường không có, không có người chứng kiến? Tôi xin chân thành cám ơn luật sư, mong nhận được sự hồi âm sớm nhất.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Trả lời:

Kính chào và cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê của chúng tôi.Với câu hỏi trên chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Như vậy thì việc bạn đi xe và vô tình gây thương tạt cho ôn cụ thì bạn sẽ phải  chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự

Về mức bồi thường dân sự được quy định tại điều 609 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

Tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hướng dẫn cụ thể về  việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

"Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

1.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

1.2. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

Thu nhập thực tế của người bị thiệt hại được xác định như sau:

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động, thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó bị xâm phạm sức khoẻ nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập thực tế nhưng mức thu nhập của các tháng khác nhau, thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi sức khoẻ bị xâm phạm nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng không ổn định và không thể xác định được, thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại nhân với thời gian điều trị để xác định khoản thu nhập thực tế của người bị thiệt hại.

- Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại chưa làm việc và chưa có thu nhập thực tế thì không được bồi thường theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 609 BLDS.

1.3. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

a) Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.

b) Thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được xác định như sau:

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có thu nhập thực tế ổn định từ tiền lương trong biên chế, tiền công từ hợp đồng lao động thì căn cứ vào mức lương, tiền công của tháng liền kề trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại có làm việc và hàng tháng có thu nhập ổn định, nhưng có mức thu nhập khác nhau thì lấy mức thu nhập trung bình của 6 tháng liền kề (nếu chưa đủ 6 tháng thì của tất cả các tháng) trước khi người đó phải đi chăm sóc người bị thiệt hại nhân với thời gian chăm sóc để xác định khoản thu nhập thực tế bị mất.

- Nếu người chăm sóc người bị thiệt hại không có việc làm hoặc có tháng làm việc, có tháng không và do đó không có thu nhập ổn định thì được hưởng tiền công chăm sóc bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.

- Nếu trong thời gian chăm sóc người bị thiệt hại, người chăm sóc vẫn được cơ quan, người sử dụng lao động trả lương, trả tiền công lao động theo quy định của pháp luật lao động, bảo hiểm xã hội thì họ không bị mất thu nhập thực tế và do đó không được bồi thường.

1.4. Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

a) Chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.

b) Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền công trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú. Về nguyên tắc, chỉ tính bồi thường thiệt hại cho một người chăm sóc người bị thiệt hại do mất khả năng lao động.

1.5. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

a) Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường cho chính người bị thiệt hại.

b) Trong mọi trường hợp, khi sức khoẻ bị xâm phạm, người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần cần căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình và cá nhân…

c) Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường."

Như vậy thì căn cứ vào thiệt hại sức khỏe thực tế của ông cụ mà bạn sẽ phải bồi thường tuy nhiên nếu gia đình ông cụ đòi bồi thường quá lớn so với việc bạn gây thiệt hại cho ông cụ thì bạn không có nghĩa vụ phải thực hiện chăm sóc ông cụ.Bạn chỉ phải bồi thường cho việc ông cụ bị dạn sương ,căn cứ vào kết quả tỷ lệ thương tật do bên y tế khám ,Trước tiên thì mức bồi thường sẽ do hai bên thỏa thuận nếu không thỏa thuận được như trường hợp của ban thì bạn có quyền cầu tòa án giải quyết ,và khi đó tòa án sẽ giải quyết căn cứ vào thiệt hại thực tế để tính số tiền bồi thường.

Theo khoản 6 Điều 25 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011 thì tranh chấp của bạn và gia đình ông cụ là tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Điều 25. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

>> Xem thêm nội dung liên quan: Bị tai nạn giao thông do lỗi của bên gây tai nạn ? Yêu cầu Viện Kiểm Sát, Công an khởi tố vụ án như thế nào ?

5. Tư vấn mức bồi thường do tai nạn giao thông ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Em có bà ngoại bị tai nan xe bán tải tông gãy xương tay, chân, chấn thương thắt lưng cột sống nhưng bên phía nhà xe chỉ cho tài xế lên đưa được 8 triệu đồng mà tổng chi phí điều trị tới nay là 30 triệu đồng nên gia đình mang bà đi giám định thương tật để khởi kiện. 

Vậy luật sư cho hỏi là nếu thương tật trên 31% thì bên kia phài bồi thường là bao nhiêu?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê.

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:   1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Vấn đề bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm trước hết do hai bên thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường. Nếu hai bên không thể tự thỏa thuận được thì tòa án sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.  Việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự năm 2005. Cụ thể hơn, tại  Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

-  Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

-  Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm: Tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường

Ngoài ra, trong trường hợp của bạn, nếu nguyên nhân dẫn đến thiệt hại về sức khỏe của bà ngoại bạn (trên 31%)  là do người điều khiển xe bán tải vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây ra thì bạn có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999.

>> Tham khảo thêm nội dung:  Hướng dẫn về bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông ?

6. Tư vấn xử lý tai nạn giao thông?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Tôi có 1 người em ruột bị tại nạn giao thông. Lý do tai nạn là do em tôi chở gỗ (bằng xe máy) vào ban đêm, lúc đó là 2h sáng ngày 18/12/2013. 

Em tôi đã đâm vào oto dài (chở máy) đang đứng vì hết dầu, không có biển cảnh báo xe dừng, cũng không có đèn xinh nhan và trời sương mù rất nhiều nên co thể em tôi không nhin thấy chướng ngại vật (chiếc  xe oto). Hậu quả là em tôi đã tử vong tại chỗ. Từ hôm xảy ra tai nạn tới giờ nhà xe gây tai nạn chỉ lên nhà tôi 1 lần và không thỏa thuận được mức bồi thường vì nói gia đình tôi đưa ra mức cao quá. gia đình tôi nêu mức hỗ trợ là 50 triệu bao gồm cả mai táng phí cho em tôi. nay tôi muốn hỏi là gia đình tôi yêu cầu mức hỗ trợ vạy có nhiều không và theo quy định thi sự việc của em tôi có sai không? Chiếc  xe oto đứng vạy có sai không? nếu sai thi sai như thế nao?

(+) Nếu hai bên gia đình không thoa thuận được, ra tòa gia đình tôi có dược mức bồi thường trên không?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê

Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư

Người gửi: quan

Tư vấn xử lý tai nạn giao thông?

Tư vấn bồi thường tai nạn lao động 

 

Trả lời:

Theo như dữ liệu bạn cung cấp thì rất có thể chiếc ô tô tải này đã vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ theo điều 18 Luật giao thông đường bộ 2008.

“Điều 18. Dừng xe, đỗ xe trên đường bộ

3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện quy định sau đây:

a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

b) Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình;

c) Trường hợp trên đường đã xây dựng nơi dừng xe, đỗ xe hoặc quy định các điểm dừng xe, đỗ xe thì phải dừng, đỗ xe tại các vị trí đó;

d) Sau khi đỗ xe, chỉ được rời khỏi xe khi đã thực hiện các biện pháp an toàn; nếu xe đỗ chiếm một phần đường xe chạy phải đặt ngay biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết;

đ) Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa bảo đảm điều kiện an toàn;

e) Khi dừng xe, không được tắt máy và không được rời khỏi vị trí lái;

g) Xe đỗ trên đoạn đường dốc phải được chèn bánh.

4. Người điều khiển phương tiện không được dừng xe, đỗ xe tại các vị trí sau đây:

a) Bên trái đường một chiều;

b) Trên các đoạn đường cong và gần đầu dốc tầm nhìn bị che khuất;

c) Trên cầu, gầm cầu vượt;

d) Song song với một xe khác đang dừng, đỗ;

đ) Trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

e) Nơi đường giao nhau và trong phạm vi 5 mét tính từ mép đường giao nhau;

g) Nơi dừng của xe buýt;

h) Trước cổng và trong phạm vi 5 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức;

i) Tại nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe;

k) Trong phạm vi an toàn của đường sắt;

l) Che khuất biển báo hiệu đường bộ”.

Theo đó, bạn cần hiểu rằng, trong trường hợp này người điều khiển ô tô kia vừa vi phạm về pháp luật hình sự vừa vi phạm về pháp luật dân sự. Cụ thể, về dân sự thì người kia đã  vi phạm về các quy định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, gây thiệt hại thì phải bổi thường, việc bồi thường ở đây sẽ là bồi thường bằng tiền. Về hình sự, thì rất có thể người kia đã vi phạm về “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”(Điều 202 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009)  nếu như khi công an điều tra người kia có những dấu hiệu thể hiện tội này.

Căn cứ điều 202 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

“Điều 202. Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.

1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Theo đó, để xử lý về tội này trước tiên cơ quan điều tra phải điều tra hiện trường để xác định lỗi của người lái xe ô tô tải. Không phải tất cả trường hợp lái xe gây chết người thì người lái xe đều bị xử lý hình sự mà còn phải điều tra xem người lái xe có lỗi, có vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ hay không. Trường hợp này  cần phải làm rõ người kia có chấp hành đúng quy định của Luật giao thông đường bộ hay không, em bạn có chấp hành đúng quy định về an toàn giao thông hay không.

Ngoài ra, người đó sẽ phải thực hiện việc đền bù thiệt hại cho gia đình bạn. Để xác định mức bồi thường gia đình bạn phải chịu thì căn cứ vào việc xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm.

Căn cứ điều 610 Bộ luật dân sự 2005 và mục 2 phần II Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

“2. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

2.1. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết bao gồm: các chi phí được hướng dẫn tại các tiểu mục 1.1, 1.4 và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị được hướng dẫn tại tiểu mục 1.2 mục 1 Phần II này.

2.2. Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...

2.3. Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết.

a) Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường.

Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

b) Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng.

- Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

- Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Vợ hoặc chồng sau khi ly hôn đang được bên kia (chồng hoặc vợ trước khi ly hôn) là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha hoặc mẹ không trực tiếp nuôi dưỡng là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Em chưa thành niên không có tài sản để tự nuôi mình hoặc em đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có khả năng lao động không có tài sản để cấp dưỡng cho con được anh, chị đã thành niên không sống chung với em là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Anh, chị không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà em đã thành niên không sống chung với anh, chị là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

- Cháu chưa thành niên hoặc cháu đã thành niên không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không còn người khác cấp dưỡng mà ông bà nội, ông bà ngoại không sống chung với cháu là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

 - Ông bà nội, ông bà ngoại không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và không có người khác cấp dưỡng mà cháu đã thành niên không sống chung với ông bà nội, ông bà ngoại là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.

2.4. Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm.

a) Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại.

b) Trường hợp không có những người được hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 này, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại.

c) Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Cần căn cứ vào hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại...

d) Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường”.

Do vậy, căn cứ vào việc xác định mức thiệt hại về tính mạng của người bị tai nạn như trên để xác định mức tiền mà người kia phải bổi thường cho em bạn.

Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng việc bồi thường này thuộc vào vấn đề bồi thường do người bị thiệt hại có lỗi theo quy định của BLDS 2005.

“Ðiều 617. Bồi thường thiệt hại trong trường hợp người bị thiệt hại có lỗi

Khi người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại thì người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường phần thiệt hại tương ứng với mức độ lỗi của mình; nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi thường”.

Theo đó, nếu như xác định được em bạn cũng có lỗi khi xảy ra thiệt hại này như: đi nhanh, không bật đèn,…vv. Thì thiệt hại sẽ được xác định theo quy định này.

Trân trọng cám ơn!

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật MInh Khuê