Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 24/11/2015;

Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-VPQH năm 2017 hợp nhất Bộ luật Hình sự do Văn phòng Quốc hội ban hành;

Nghị định 30/2018/NĐ-CP về quy định chi tiết việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự;

Thông tư 43/2018/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 30/2018/NĐ-CP hướng dẫn việc thành lập và hoạt động của Hội đồng định giá tài sản; trình tự, thủ tục định giá tài sản trong tố tụng hình sự do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành

2. Chuyên viên tư vấn:

Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Về cơ bản, thú nuôi - chó cảnh hay chó nhà là động vật nên cũng được coi là tài sản của con người.

Như vậy, nếu đã là tài sản, người thực hiện hành vi trộm cắp chó mà bạn nêu trên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu chú chó đó có giá trị trên 2.000.000 vnđ. Cụ thể, Điều Bộ luật Hình sự có quy định như sau:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1.92 Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

...

Tuy nhiên, để xem xét giá trị của chú chó có tới mức đối tượng thực hiện hành vi trộm cắp phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn phải phụ thuộc vào việc thẩm định giá của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 30/2018/NĐ-CP về Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, việc định giá tài sản phải dựa trên các căn cứ sau:

- Giá thị trường của tài sản. Giá thị trường của tài sản thường được xác định là giá giao dịch phổ biến trên thị trường của tài sản cần định giá hoặc tài sản tương tự với tài sản cần định giá tại thời điểm định giá và địa điểm định giá được yêu cầu định giá.

Theo hướng dẫn tại thông tư số 43/2018/TT-BTC thì:

Giao dịch phổ biến trên thị trường là hoạt động mua, bán tài sản được tiến hành hợp pháp và công khai trên thị trường. Một tài sản được coi là có giao dịch phổ biến khi có ít nhất 03 tài sản tương tự có giao dịch mua, bán trên thị trường. Mức giá giao dịch phổ biến được thu thập là giá mua, bán thực tế của giao dịch thành công; giá niêm yết của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; giá chào bán, giá chào mua; giá kê khai; giá trúng thầu; giá ghi trên hóa đơn, hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ…

- Giá do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, quyết định;

- Giá do doanh nghiệp thẩm định giá cung cấp;

- Giá trong tài liệu, hồ sơ kèm theo tài sản cần định giá (nếu có);

- Các căn cứ khác về giá hoặc giá trị của tài sản cần định giá.

Việc định giá phải tuân theo nguyên tắc hành vi trộm cắp được thực hiện vào thời điểm nào thì tài sản trộm cắp phải được định giá theo thời điểm đó. Như vậy, trong trường hợp này giá của chú chó có thể được xác định theo giá mua - bán trên thị trường. Hiện nay, trên các website mua bán chó cảnh, có corgi con được giao bán với giá từ 500.000 vnđ đến hàng triệu đồng 1 con, tùy theo độ thuần chủng. Do vậy, việc xác định giá cúa chú chó bị trộm cắp nói trên là căn cứ quan trọng để xem xét tới việc người thực hiện hành vi trộm cắp cho có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Nếu giá trị dưới 2.000.000 vnđ, mặc dù có hành vi lén lút trộm cắp tài sản nhưng giá trị tài sản chưa đủ để bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị xử lý vi phạm hành chính. Trường hợp này, người bị hại nên làm đơn tố giác gửi tới cơ quan công an cấp quận huyện để cơ quan điều tra tiến hành điều tra xác minh giá trị tài sản để có biện pháp thích đáng với đối tượng nêu trên.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê