Ngoài ra họ gửi thêm băng ghi âm và bản chụp giấy nhận tiền và họ nói có em trai làm chứng nói người này người kia làm chứng nữa . Trong đơn tố cáo họ yêu cầu cơ quan tôi 3 việc: Thứ nhất là bắt tôi trả cho chị ta 200 triệu bao gồm các khoản: bảo hiểm xã hội, sinh đẻ , thai sản, tiền lãi vay ngoài của chị ta, tinh thần ảnh hưởng... Thứ hai, yêu cầu tôi bị xử lý hình sự là đi tù vì lừa đảo rất nhiều người ( lừa chị ta và em trai chị ta). Thứ  ba, là yêu cầu cơ quan tôi đuổi việc tôi. Sau khi có đơn tôi được lãnh đạo gọi làm đơn giải trình, tôi giải trình như sau: năm 2010 do quen biết mẹ tôi có nhận chị ta làm con trong gia đình , đến năm 2011 mẹ tôi thông qua tôi nhờ tôi nhận 50 triệu của chị ta( thời điểm đó tôi chưa vào cơ quan nhà nước), sau đó đến năm 2013 do mẹ tôi và chị ta công việc không được như ý chị ta ( chị ta đã đi làm được 1 năm tại đơn vị mà mẹ tôi xin cho rồi nhưng sau đó đơn vị đó không ký tiếp hợp đồng với chị vì nhiều lý do , do chị không đáp ưng được công việc mà họ cho nghỉ).  để vực tinh thần chị ta mẹ tôi lại nhờ tôi đưa cho chị ta 97 triệu ( chị ta đòi 100triệu nhưng gia đình tôi chỉ có 97 triệu là 50 triệu chi ta đưa và 30 triệu không nhớ có viết giấy không , và 17 triệu là lãi mà chị ta yêu cầu vì chi ta đi vay) vì lúc đó tôi đi làm cơ quan nhà nước rồi lên không muốn làm ầm ĩ sự việc mới đưa cho chị ta như vậy. ( giấy nhận tiền này gia đình tôi còn giữ dù chỉ có chị ta ký nhận đủ không có chữ ký người làm chứng). Tôi nghĩ việc giữa mẹ tôi và chị ta là quan hệ dân sự và quan hệ này đã hoàn trả cho nhau đầy đủ . tôi không tham gia chỉ là người ở giữa. vậy tôi hỏi chị ta tố cáo tôi tại cơ quan tôi như vậy có đúng không ? sau khi có kết quả từ cơ quan tôi tôi có kiện chị ta ra toà tội vu khống không ?

Xin trân trọng cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn luật hình sự gọi 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Nội dung phân tích:

Điều 139 Bộ luật hình sự quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Theo đó, cấu thành tội phạm của tội này bao gồm:

Chủ thể: Những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì đều có thể là chủ thể của tội này.

Khách thể: Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chính là quan hệ sở hữu. Nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu them trách nhiệm hình sự về tội khác.

 Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn gian dối. Thủ đoạn gian dối ở đây là đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa người khác. Hành vi này có thể thông qua lời nói; xuất trình giấy tờ giả mạo; giả danh cán bộ; giả danh tổ chức ký kết hợp đồng. Gian dối là đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nhưng không phải mọi hành vi gian dối đếu cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

 Mặt chủ quan của tội phạm:  Lỗi được xác định đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xác định là lỗi cố ý với mục đích chiếm đoạt tài sản; thực hiện được thủ đoạn gian dối (mong muốn người khác tin mình)

Điều 122. Tội vu khống 
1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với nhiều người;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người thi hành công vụ;
e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi, mẹ bạn nhờ bạn cầm của chị kia 50 triệu đồng sau đó mẹ bạn đã xin việc cho chị ấy. Sau khi chị ấy bị nghỉ việc ở công ty thì mẹ bạn đã hoàn trả số tiền 97 triêu đồng cho chị ta nhưng lại nhờ bạn đưa cho chị ta. Do đó, xét về cấu thành tội phạm chị không cố ý đề chiếm đoạt tài sản của chị kia. Việc chị nhận của chị ta 50 triêu là nhận giúp mẹ chị để mẹ chị xin việc cho chị ấy và việc xin việc có xảy ra trên thực tế nên không có hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản của chị kia ở đây. Bởi vậy việc chị kia tố cáo chị ở cơ quan là không đúng sự thật. Trường hợp sau khi có kết quả từ cơ quan bạn nếu có đầy đủ chứng cứ chị kia lan truyền, bịa đặt những điều không đúng sự thật làm ảnh hưởng đến danh dự nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp của chị thì bạn có thể kiện chị ta về tội vu khống.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư hình sự.