Luat Minh Khue

Từ tội trộm cắp tài sản chuyển thành tội cướp cướp tài sản như thế nào

cháu tôi đã trèo sang nhà hàng xóm lấy trộm tài sản và làm chủ nhà bị thương. Cháu tôi sau đó tẩu thoát cùng tài. Sau khi cháu tôi bị bắt và khởi tố và phán cháu tôi tội cướp tài sản. Tòa án phán xử như vậy có phải là đã sai không

Xin chào Luật sư, tôi có một số vấn đề cần được tư vấn, mong Luật sư giải đáp giúp tôi. Cháu trai của tôi là thợ sơn nhà, trong một lần đi sơn nhà ở thị trấn, cháu tôi để ý nhà hàng xóm bên cạnh không có làm hàng rào ở ban công. Một đêm thấy nhà đối diện quên đóng cửa ban công cháu tôi đã trèo sang và vào nhà lấy một chiếc túi xách có chứa điện thoại di động, tiền. Trong lúc lục tìm thêm tài sản, cháu tôi gây ra tiếng động và bị anh G (chủ nhà) phát hiện. Anh G giữ lại chiếc túi, cháu tôi đã dùng tay đấm rất mạnh vào mặt làm anh G choáng váng, ngã xuống sàn nhà. Cháu tôi sau đó tẩu thoát cùng chiếc túi đựng tiền và chiếc điện thoại di động. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 20 triệu đồng. Sau khi cháu tôi bị bắt và khởi tố, tòa án có cho biết anh G bị tổn hại sức khỏe 25% và phán cháu tôi tội cướp tài sản. Trong khi đó mục đích của cháu tôi chỉ là trộm đồ chứ không phải cướp. Tòa án phán xử như vậy có phải là đã sai không, mong Luật sư giải đáp giúp tôi.

Luật sư trả lời:

Chào cô, cảm ơn cô đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi, trường hợp của cô được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Nghị quyết số 01/1989/HĐTP ngày 19 tháng 4 năm 1989 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hưỡng dẫn bổ xung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự

- Thông tư số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP

- Bộ Luật hình sự 1999

2. Chuyên viên tư vấn:

Nghị quyết số 01/1989/HĐTP ngày 19 tháng 4 năm 1989 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hưỡng dẫn bổ xung việc áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, tại mục VIII quy định về việc chuyển hóa từ một số hình thức chiếm đoạt tài sản thành cướp tài sản:

“a) Nếu là trường hợp do chưa chiếm đoạt được tài sản mà kẻ phạm tội dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được thì cần định tội là cướp tài sản…

b) Nếu là trường hợp kẻ phạm tội đã chiếm được tài sản rồi, nhưng chủ tài sản hoặc người khác đã lấy lại được tài sản đó hoặc đang giành giật tài sản còn ở trong tay kẻ phạm tội, mà kẻ phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dung vũ lực ngay để tẩu thoát tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản ngay bằng được, cần định tội là cướp tài sản…

Đối với các trường hợp trên đây chỉ cần kết án kẻ phạm tội về một tội là cướp tài sản… và coi việc chiếm đoạt (chưa thành hoặc đã thành) trước khi dung vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc vũ lực là tình tiết diễn biến của tội phạm.

c) Nếu coi việc dùng vũ lực ngay tức khắc (đe dọa dùng vũ lực) là nhằm để tẩu thoát (kể cả khi tẩu thoát cùng với tài sản đã chiếm được), thì không kết án kẻ phạm tội về cướp tài sản…, mà tùy trường hợp để kết án họ về tội phạm xảy ra trước khi dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) và coi việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dung vũ lực) là tình tiết “hành hung để tẩu thoát” ( tình tiết định khung hình phạt cao hơn theo các điều 131, 132, 154, 155 BLHS). Nếu việc dùng vũ lực dẫn tới hậu quả làm chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội giết người. Nếu hậu quả của việc dùng vũ lực là gây cố tật nặng hoặc gây thương tích dẫn đến chết người thì kẻ phạm tội bị kết án thêm về tội cố ý gây thương tích theo khoản 3 Điều 109 BLHS.”

Theo Thông tư số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV các tội xâm phạm sở hữu của BLHS năm 1999 tại mục 6 (6.1,6.2) phần 1 của Thông tư:

“Khi áp dụng tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm đ Khoản 2 Điều 136; điểm e Khoản 2 Điều 137; điểm đ Khoản 2 Điều 138 _ BLHS) cần chú ý:

6.1. Phạm tội thuộc trường hợp “hành hung để tẩu thoát” là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm doạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, bắn, chém, xô ngã nhằm tẩu thoát.

6.2. Nếu người phạm tội chưa chiếm dược tài sản hoặc đã chiếm được tài sản nhưng đã bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dung vũ lực, đe dọa dung vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là hành huing để tẩu thoát mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản.”

Từ Nghị quyết số 01/1989/HĐTP và Thông tư số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP chúng tôi có thể khẳng định rằng hành vi của cháu cô cấu thành tội cướp tài sản theo Khoản 1 và Khoản 2 Điều 133 Bộ Luật hình sự về khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan :

1. Người nào dũng vũ lực, đe dọa dung vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c)Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vuc khí, phương tiện hoắc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc tổn hại đến sức khỏe của người khác mà tỉ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có trị giá từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) gây hậu quả nghiêm trọng;”

Thông qua Điều 133 chúng ta làm rõ hành vi cướp tài sản được hiểu là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của họ hoặc do họ quản lý.

Về khách thể: hành vi cướp tài sản đồng thời xâm phạm hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Cụ thể trong vụ án trên cháu của cô có hành vi xâm phạm đến tài sản và thân thể của anh G. Sự xâm phạm một trong hai quan hệ xã hội này đều chưa thể hiện được hết bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi cướp tài sản. Do vậy, cả hai quan hệ xã hội bị xâm hại được coi là khách thể trực tiếp của tội cướp tài sản.

Về chủ thể: Chủ thể của tội phạm nói chung đều phải đạt độ tuổi theo luật định (Điều 12_BLHS) và phải có năng lực chịu trách nhiệm hình sự (tức là không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 13_BLHS). Về năng lực chịu trách nhiệm hình sự cháu của cô đã có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định.

Về mặt khách quan: Khoản 1 Điều 133 Bộ Luật hình sự:

“Người nào dũng vũ lực, đe dọa dung vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.”

Như vậy, theo điều luật thì có ba dạng hành vi được xem là hành vi thuộc mặt khách quan cấu thành tội phạm của tội cướp tài sản:

Thứ nhất, hành vi dùng vũ lực được hiểu là hành vi dùng sức mạnh vật chất (có thể sử dụng vũ khí, công cụ phương tiện hoắc không) tác động vào người khác nhằm đè bẹp hoặc làm tê liệt sự chống cự của người này nhằm chống lại việc chiếm đoạt. Việc sử dụng vũ lực này có thể được thực hiện một cách bí mật hoắc công khai. Hành vi dùng vũ lực trước hết là hành vi nhằm vào con người, tác động vào cơ thể nạn nhân như: đấm, đá, bóp cổ, bắn, đâm, chém,…có thể làm cho nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại đến sức khỏe hoặc bị chết nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể mà chỉ nhằm triệt tiêu sự chống cự của chủ tài sản. Nhìn chung, người phạm tội dùng vũ lực chủ yếu đối với chủ tài sản. Tuy nhiên cũng không loại trừ người phạm tội dùng vũ lực đối với bất cứ người nào mà chủ phạm tội cho rằng họ sẽ cản trở việc thực hiện hành vi chiếm đoạt của người phạm tội.

Thứ hai, hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe dọa người bị hại nếu không đưa tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện ngay. Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc thường kết hợp giữa hành vi dùng lời nói, cử chỉ với thái độ hung bạo…để tạo cảm giác cho người bị tấn công tin rằng, người phạm tội sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc, nếu không để cho người phạm tội chiếm đoạt tài sản thì tính mạng, sức khỏe sẽ bị nguy hại. Chính sự đe dọa đã làm tê liệt ý chí của người bị đe dọa.Vũ lực đe doạ sẽ thực hiện có thể nhằm vào chính người bị đe dọa nhưng cũng có thể nhằm vào người có quan hệ thân thuộc với người bị đe dọa.

Ngay tức khắc là dấu hiệu vừa dùng để chỉ sự nhanh chóng về mặt thời gian (sẽ xảy ra ngay lập tức) vừa dùng để chỉ sự mãnh liệt của hành vi đe dọa. Hành vi đe dọa dùng vũ lực của tội cướp tài sản có tính chất mãnh liệt làm cho người bị đe dọa thấy rằng vũ lực sẽ xảy ra ngay, họ không hoặc khó có điều kiện tránh khỏi. Đánh giá dấu hiệu ngay tức khắc không phụ thuộc vào việc đánh giá người đó có ý định sẽ dùng vũ lức ngay tức khắc hoặc có đủ điều kiện để dùng vũ lực ngay tức khắc hay không mà chỉ xem người phạm tội đã có hành vi, cử chỉ, thái độ thể hiện ra bên ngoài rằng sẽ dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng không có ý định hoặc không có điều kiện dùng vũ lực ngay tức khắc cũng bị coi là cướp tài sản. Trên thực tế, vũ lực chưa xảy ra nên việc đánh giá người phạm tội có dùng vũ lực ngay tức khắc hay không là vấn đề phức tạp cần phải dựa vào nhiều căn cứ khác nhau để xác định.

Thứ ba, hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Đây là hành vi làm cho chủ tài sản tuy biết việc bị chiếm đoạt tài sản xảy ra nhưng không thể chống cự được như bị nhốt, trói,… hoặc tuy không bị nguy hiểm đến tính mạng nhưng không thể nhận thức được sự việc đang xảy ra. Theo quy định của Điều 133_BLHS tội cướp tài sản được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện một trong các hành vi khiến cho người bị tấn công lâm vao tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Việc người phạm tội chiếm đoạt được tài sản hay chưa không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này.

Trong vụ án trên cháu của cô đã có hành vi dùng vũ lực (nắm đấm) tác động vào người anh G nhằm đè bẹp sự chống cự của anh G chống lại việc chiếm đoạt tài sản của mình. Ở đây anh G (người bị tấn công) là chủ tài sản, cháu của cô cho rằng anh G có khả năng ngăn cản việc chiếm đoạt của mình do đó cháu của cô có hành vi dùng vũ lực-đấm vào mặt ah G. Hậu quả anh G bị tổn hại sức khỏa là 25% thuộc Điểm đ Khoản 2 Điều 133_BLHS, tổng số tài sản mà cháu của cô chiếm đoạt được là 20 triệu đồng.

Về mặt chủ quan: Lỗi của cháu cô trong vụ án trên là lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội cháu của cô đã biết mình thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Căn cứ vào thực tiễn xét xử của Tòa án được quy định tại Nghị quyết số 01/1989/HĐTP:

“Nếu là trường hợp kẻ phạm tội đã chiếm được tài sản rồi, nhưng chủ tài sản hoặc người khác đã lấy lại được tài sản đó hoặc đang giành giật tài sản còn ở trong tay kẻ phạm tội, mà kẻ phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dung vũ lực ngay để tẩu thoát tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản ngay bằng được, cần định tội là cướp tài sản…Đối với các trường hợp trên đây chỉ cần kết án kẻ phạm tội về một tội là cướp tài sản… và coi việc chiếm đoạt (chưa thành hoặc đã thành) trước khi dung vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc vũ lực là tình tiết diễn biến của tội phạm.”

Trong vụ án trên, cháu của cô có hành vi trèo sang ban công và trộm túi xách (tội trộm cắp), tuy nhiên sau khi bị phát hiện cháu của cô đã có hành vi tấn công lại anh G (dùng vũ lực: đấm vào mặt ah G) nhằm giữ được tài sản đã chiếm được trước đó. Mục đích của cháu của cô là chiếm đoạt tài sản và sau khi bị ah G (chủ nhà) phát hiện cháu của cô đã cố giữ tài sản. Vậy, đây là trường hợp chuyển hóa từ tội trộm cắp (Điều 138) sang tội cướp tài sản (Điều 133).

Như vậy, hành vi của cháu cô cấu thành tội cướp tài sản với định khung tăng nặng tại Điểm đ Khoản 2 Điều 133 Bộ Luật hình sự.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty luật Minh Khuê

5 sao của 1 đánh giá

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Cảm ơn bạn đã nhận xét!

Like fanpage Luật Minh Khuê để nhận tin mới mỗi ngày

Bài viết cùng chủ đề

Dịch vụ nổi bật