Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn cách nhận biết hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 

2. Nội dung phân tích:

Để kết luận người này có phải phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không cần xem xét đến yếu tố :

- Nếu người phạm tội lừa đảo nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo. Tức là người này có thủ đoạn gian dối để khiến bạn tiến hành giao tài sản cho họ nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền đó thì hành vi của họ có dấu hiệu của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Điều 139 Bộ luật hình sự quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.".

Trong trường hợp này của bạn:

+ Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Ở đây người đó đã nói có hàng để cho bạn tin tức là dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho bạn tin đó là thật và giao tài sản cho họ rồi chiếm đoạt số tiền 4 triệu đồng đó. Biểu hiện của việc chiếm đoạt đó là sau khi tiền được bạn chuyển khoản sang cho họ thì họ nói không có hàng và sẽ gửi lại tiền nhưng thực ra họ lại tắt máy, và bạn không thể liên lạc được. 

+ Giá trị tài sản : trên 2 triệu đồng, cụ thể là 4 triệu.

+ Hành vi này đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bạn, cụ thể là quyền sở hữu đối với số tiền 4 triệu đồng kia.

+ Lỗi của họ trong trường hợp này là lỗi cố ý. 

Như vậy, trường hợp này người đó đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

- Nếu sau khi bạn giao tiền rồi, họ vì khó khăn nào đó không giao được hàng sau đó mới nảy sinh ý định chiếm đoạt và thực hiện việc chiếm đoạt thì họ có thể bị xem xét có dấu hiệu của tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điều 140 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.".

Nếu phát hiện người phạm tội có dấu hiệu của tội phạm thì bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền. Mẫu đơn tố cáo lừa đảo chiếm đoạt tài sản bạn có thể tham khảo: Mẫu đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định như sau:

"Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.".

Dựa trên cơ sở đơn tố cáo của bạn, cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh, làm rõ. Nếu nhận thấy đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành khởi tố vụ án hình sự theo Điều 100 Bộ luật TTHS 2003, cụ thể :

"Điều 100. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1. Tố giác của công dân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;

3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5. Người phạm tội tự thú.".

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. 

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email   Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê