Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn về việc giả chữ ký để vay tiền ngân hàng ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được trả lời như sau:

1.Căn cứ pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999

Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009

Bộ luật hình sự năm 2015 

2. Luật sư tư vấn:

Hiện nay theo quy định tại Điều 139 BLHS 2009 có quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Như vậy trong trường hợp này chồng bạn vay số tiền 400 triệu với lãi suất 2000/1 triệu/1 ngày nhưng hiện tại chồng chị không có khả năng trả nợ. Mà theo quy định tại Điều 139 BLHS thì để dấu hiệu của tội này là người phạm tội có hành vi gian dối trước khi có hành vi chiếm đoạt. Vì vậy nếu chồng chị không hề có hành vi gian dối trước khi vay tiền và hiện nay cũng không có mục đích chiếm đoạt số tiền trên mà chỉ là do làm ăn thua lỗ chưa trả được nợ thì không đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 BLHS.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề có bị phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không ?. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về Bộ luật hình sự 2009 và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài gọi: 1900.6162 .

Trân trọng./

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê