2. Nguyễn Văn A và Trần Văn B tranh chấp quyền sở hữu một căn nhà cấp 4. Vụ việc trên đã được Tòa án nhân dân (TAND) huyện X, tỉnh Y giải quyết. Theo đó TAND huyện X ra bản án tuyên: Căn nhà trên thuộc sở hữu của A. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, A đã chuyển quyền sở hữu cho Trần Văn C. Một thời gian sau, TAND tỉnh Y đã xét xử lại bản án trên của TAND huyện X và tuyên bố: quyền sở hữu căn nhà trên thuộc về B, bản án của TAND huyện X là không có căn cứ pháp luật. vậy anh B có nhận lại tài sản của mình không?

Mong sớm có câu trả lời từ Luật sư em xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn đòi lại tài sản bị lừa đảo theo luật, gọi:   1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng Công ty Luật Minh Khuê, đối với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp và tư vấn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội

Bộ Luật Tố tụng dân sự số 65/2011/QH12 sửa đổi của Quốc hội

Bộ luật Dân sự năm 2015 

2. Nội dung tư vấn

1) Theo quy định tại Điều 512 Bộ luật dân sự 2005 về hợp đồng mượn tài sản:

“Hợp đồng mượn tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho mượn giao tài sản cho bên mượn để sử dụng trong một thời hạn mà không phải trả tiền, còn bên mượn phải trả lại tài sản đó khi hết thời hạn mượn hoặc mục đích mượn đã đạt được".

Pháp luật không quy định về hình thức bắt buộc đối với loại hợp đồng này, vì vậy, việc bạn cho bạn của bạn mượn nhà dưới bất kỳ hình thức nào thì cũng đều được pháp luật thừa nhận. Do đó, giữa A và B đã tồn tại hợp đồng mượn tài sản.

Về quyền của người cho mượn tài sản quy định tại Bộ luật dân sự 2005:

Điều 517. Quyền của bên cho mượn tài sản

Bên cho mượn tài sản có các quyền sau đây:

1. Đòi lại tài sản ngay sau khi bên mượn đạt được mục đích nếu không có thoả thuận về thời hạn mượn; nếu bên cho mượn có nhu cầu đột xuất và cấp bách cần sử dụng tài sản cho mượn thì được đòi lại tài sản đó mặc dù bên mượn chưa đạt được mục đích, nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý;

2. Đòi lại tài sản khi bên mượn sử dụng không đúng mục đích, công dụng, không đúng cách thức đã thoả thuận hoặc cho người khác mượn lại mà không có sự đồng ý của bên cho mượn;

3. Yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản do người mượn gây ra.

Theo đó, A có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với tài sản khi có thiệt hại xảy ra. Trong trường hợp này, B đã đem tài sản mượn được đem bán cho người khác là X, điều này trái với quyền của bên mượn tài sản quy định tại Điều 515 BLDS và quy định về quyền sử dụng của người không phải chủ sở hữu tại Điều 194 BLDS . Ở đây, B đã tự ý định đoạt tài sản của A mà không có sự ủy quyền của chủ sở hữu, hành động này đã ảnh hưởng và xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của A. Do vậy, A có thể làm đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân cấp Huyện nơi B cư trú để đòi lại tài sản từ X. Cùng với việc nộp đơn khởi kiện A nên cung cấp các tài liệu mà A có thể thu thập được để chứng minh việc cho mượn tài sản này, đồng thời chứng minh quyền sở hữu của mình đối với tài sản là chiếc điện thoại. Về mẫu đơn kiện, hình thức và thủ tục khởi kiện quy định chi tiết tại Bộ luật Tố tụng dân sự 2011.

2)  Nguyễn Văn A và Trần Văn B tranh chấp quyền sở hữu một căn nhà cấp 4. Vụ việc trên đã được Tòa án nhân dân (TAND) huyện X, tỉnh Y giải quyết. Theo đó TAND huyện X ra bản án tuyên: Căn nhà trên thuộc sở hữu của A. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, A đã chuyển quyền sở hữu cho Trần Văn C. Một thời gian sau, TAND tỉnh Y đã xét xử lại bản án trên của TAND huyện X và tuyên bố: quyền sở hữu căn nhà trên thuộc về B, bản án của TAND huyện X là không có căn cứ pháp luật. 

Căn cứ theo khoản 6 điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 sửa đổi bổ sung 2011: "Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định".

Theo đó   bản án của TAND Tỉnh Y có hiệu lực pháp lý, tức là quyền sở hữu căn nhà trên thuộc về B, bản án của TAND huyện X là không có căn cứ pháp luật.

Do đó B có quyền nhận lại tài sản của mình.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê