Theo cháu được biết thì Em gái cháu trong thời gian học ở trường đại học có quen với 2 con trai của 1 chú là Đảng viên là Bác sĩ của 1 trạm y tế xã, Và Em cháu nhận tiền chạy trường đại học cho 2 con của chú ấy,..và cụ thể là 628 triệu đồng (theo cháu được biết thì số tiền 628 triệu được đưa cho Em cháu nhiều lần), Em cháu đã trả lại cho chú ấy 20 triệu, đến nay Em không lo được việc, không có khả năng trả tiền cho chú ấy,(Em cháu khai đem tiêu xài cá nhân hết rồi) và bị bắt .. Thưa Luật sư Cháu muốn hỏi là: Em cháu phạm tội 139 có đúng không?Em cháu bị tạm giam 3 tháng hay lâu hơn nữa ạ? (bị bắt tạm giam ngày 25/10/2015 đến nay). Sau 3 tháng tạm giam có được tại ngoại không ạ?Quy trình tiếp theo là như thế nào ạ,.Chú ấy đưa tiền cho Em cháu nhiều lần nhưng không có sự chứng kiến của gia đình, không cho gia đình biết, đến vừa rồi mới gọi điện đòi tiền gia đình Cháu, chú ấy là Đảng viên mà lại đưa tiền cho 1 sinh viên, không có thế chấp tài sản gì, không có chức quyền gì..Như vậy chú ấy có phạm tội không? Mẹ cháu cũng là giáo viên nghỉ hưu, là Đảng viên, hiện nay sức khỏe rất yếu, suy sụp nhiều, Cháu là Anh, chưa phải Là Đảng viên cháu có thể viết đơn tố cáo chú ấy không? Viết như thế nào và gửi đến đâu ạ? Em cháu không chạy được việc mà năm lần bảy lượt chú ấy vẫn chuyển tiền cho Em!...Có nhiều khúc mắc lắm ạ...Cháu mong chờ hồi âm của quý Luật sư. Kính chúc quý Công ty năm mới gặp nhiều may mắn và thành công!

Cháu xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

 Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

 

Trả lời:

 

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Căn cứ pháp luật:

- Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 

2. Nội dung tư vấn

Tùy vào hành vi của em gái bạn mà truy cứu em của bạn vi phạm điều luật nào. Vì bạn không nói rõ về hành vi của em của bạn theo hướng nào nên chúng tôi xin được tư vấn theo các trường hợp như sau:

+ Nếu em của bạn dùng số tiền trên để tác động tới người có chức vu quyền hạn thì hành vi này sẽ thuộc hành vi truy cứu về tội môi giới hối lộ. Hành vi khách quan của tội này là hành vi làm trung gian giữa người nhận và người đưa hối lộ. Tội này được quy định cụ thể trong điều 290 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung năm 2009:

"Điều 290. Tội làm môi giới hối lộ

1. Người nào làm môi giới hối lộ mà của hối lộ có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới mười triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần,  thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

c) Biết của hối lộ là tài sản của Nhà nước;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Của hối lộ có giá trị từ mười triệu đồng đến dưới năm  mươi triệu đồng;

e ) Gây hậu quả nghiêm trọng khác.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Của hối lộ có giá trị từ ba trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần giá trị của hối lộ.

6. Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự"

+ Nếu em của bạn dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm dụng số tiền trên thuộc tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối. Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thực nhằm để người khác tin đó là sự thật giả sử em của bạn đưa thông tin giả về khả năng có thể giúp người vào đại học nhằm chiếm đoạt tài sản, được quy định tại Điều 139 BLHS năm 1999 được sửa đôi, bổ sung năm 2009:

" Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn
đồng nhưng gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm
đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm hoặc tù chung thân”:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm
hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm"
Như vậy, việc cơ quan có thẩm quyền tạm giam em của bạn vì có căn cứ cho rằng em của bạn phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì bạn không nói rõ mục
đích hành vi nhận tiền của em bạn như thế nào, có làm trung gian hay không nên chúng tôi không khẳng định hoàn toàn cơ quan có thẩm quyền đúng hay sai.
Việc đưa ra kết luận về tội của em bạn còn phụ thuộc vào quá trình điều tra, xác minh làm rõ từ phía cơ quan điều tra để kết luận em của bạn phạm điều luật
nào và định mức khung hình phạt

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư hình sự.