Đến tối chồng tôi đã giao nộp lại chiếc điện thoại cho công an và cũng đã ra đầu thú sau đó. Theo tôi được biết thì chồng tôi có trên 2 tình tiết giảm nhẹ đó là không gây hậu quả hay thiệt hại nhiêm trọng, sửa chữa bồi thường thiệt hại và ra đầu thú. Như vậy cho tôi hỏi chồng tôi sẽ bị cấu thành tội danh gì và mức án là bao nhiêu?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn về việc giả chữ ký để vay tiền ngân hàng ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:    1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Về vấn đề của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi 2009.

2. Nội dung phân tích

Như bạn trình bày thì chồng bạn đi xe máy trên đường có nhìn thấy "một chiếc điện thoại lòi ra ngoài đã thò tay vào lấy và vứt xe máy bỏ chạy khi bị dân hô cướp", giá trị chiếc điện thoại dưới 2 triệu đồng. Do đó, xác định tội phạm đối với hành vi của bạn như sau:

1. Nếu khi bỏ chạy, chồng bạn bị người dân truy đuổi, đồng thời chồng bạn cố gắng giữ bằng được chiếc điện thoại bằng cách dùng vũ lực... thì đây là hành vi chuyển hóa tội phạm từ tội trộm cắp tài sản thành tội cướp tài sản, theo quy định Điều 133 BLHS:

Điều 133.  Tội cướp tài sản 

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.

Khung hình phạt đối với tội này là phạt tù từ ba năm đến tù chung thân hoặc tử hình.

2. Nếu chồng bạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc tự mình tạo ra những sơ hở để thực hiện hành vi công khai chiếm đoạt chiếc điện thoại rồi nhanh chóng tẩu thoát thì chồng bạn phạm tội cướp giật tài sản theo quy định tại Điều 136 BLHS:

Điều 136.  Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười  năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu  thoát;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương  tật từ 11% đến 30%;

g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

h) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm  chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Khung hình phạt của tội phạm này là phạt tù từ một năm đến  tù chung thân.

3. Nếu khi chồng bạn thò tay lấy chiếc điện thoại mà người bị hại không biết, giá trị chiếc điện thoại thỏa mãn Điều 136 BLHS thì chồng bạn phạm tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại Điều 138 BLHS:

Điều 138.  Tội trộm cắp tài sản 

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dướihai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b)  Có tính chất chuyên nghiệp;

c)  Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g)  Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt  nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Khung hình phạt của tội này là phạt tù từ 6 tháng đến tù chung thân. 

Về việc chồng bạn từng có tiền án phạm tội cướp tài sản:

Như bạn trình bày,  chồng bạn từng bị một tiền án cướp tài sản sau 3 năm thì được đặc xá về, đến nay đã đươc 6 năm. Do đó, chồng bạn phạm tội cướp tài sản với mức hình phạt trên 3 năm tù. Để xác định chồng bạn được xóa án tích hay không cần căn cứ vào Khoản 2 Điều BLHS:

2. Người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XI và Chương XXIV của Bộ luật này, nếu từ khi chấp hành xong bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án người đó không phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) Một năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) Ba năm trong trong trường hợp hình phạt là tù đến ba năm;

c) Năm năm trong trường hợp hình phạt là tù từ trên ba năm đến mười lăm năm;

d)  Bảy năm trong trường hợp hình phạt là tù  từ trên mười lăm năm.

Như vậy, nếu chồng bạn bị phạt tù từ trên ba năm đến mười lăm năm đối với tội cướp tài sản thì tính đến hiện tại, chồng bạn được xóa án tích. Nếu chồng bạn bị phạt tù từ trên mười lăm năm thì chồng bạn chưa được xóa án tích. Tuy nhiên, có thể thấy, chồng bạn sau 3 năm thì được đặc xá nên trường hợp của chồng bạn là bị phạt từ từ  trên ba năm đến mười lăm năm, do đó, chồng bạn được xóa án tích về tôi cướp tài sản.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của chồng bạn:

Chồng bạn có các tình tiết giảm nhẹ  quy định tại Khoản 1 Điều 46 là Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả (Điểm b),  Người phạm tội tự thú (Điểm o). Như vậy đây có thể là căn cứ giảm nhẹ hình phạt đối với chồng bạn, theo Điều 47 BLHS:

Điều 47.  Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Toà án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn:  1900.6162  .

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê