Công ty trụ sở ở tp và lúc làm dự án ở huyện em thì có lập tạm một vp do một người tên H (cháu ông P) quản lý. Vào ngày 25.12.2013 ba em đến gặp ông H để đưa tiền đợt 1. ông H nhận và đưa cho ba em một bản hợp đồng như trên có chữ kí của ông P mà không có biên nhận gì sau đó ông H nói sẽ ra ngân hàng chuyển. Lúc đó ba em không quan tâm vì mình đã lấy HĐ. Rồi ba đi về. Sau đó, nhà em vẫn lấy đất và xây dựng nhà ở bình thường. Cho đến hòm nay 6.8.2015, ông H nói là có sổ đó và lấy tiền đợt 2 thì ông ấy nói nhà em chỉ mới đóng 458tr, ba mẹ phản đối và nói đóng đủ rồi đưa hợp đồng ra thì ổng nói phải có giấy thu tiền, rồi điện về cho công ty thì công ty nói là chuyển khoản chỉ có 458tr vào ngày 25.12.2013, lúc đó ông H lại nói nếu chuyển khoản thì không có giấy thu gì hết chuyển bao nhiêu là trả bấy nhiêu còn hợp đồng này không giá trị. Sau đó gia đình em liên hệ với ngân hàng thì ngân hàng nói có tên của ba em chuyển 458tr. Trong khi sự thật là ba em không hề chuyển tiền qua ngân hàng. Em nghĩ ông H này lợi dụng gia đình em thiếu hiểu biết nên đã lấy 200tr. Nếu giờ kiện tung gia đình có nắm phần thắng không ạ. Em có một số phân tích thế này:

1. ông H này mượn tên của ba em để chuyển 458tr và nói là ba e hỉ đưa nhiêu đcó nhưng tại sao lại đưa hợp đồng để là thanh toán 658tr và cho nhà em xây dựng nhà để ở hơn cả năm mà không đòi thêm 200tr. Nếu sự thật nhà em chỉ đưa 458tr thì ổng phải ghi vo hợp đồng chỉ nhận 458tr chứ sao vẫn để 658tr.

2. Trong hợp có một số điểm như thế này: hợp đồng chỉ có hiệu lực từ khi thanh toan đủ 658tr. Sau khi thanh toán tiền đợt 1 thì mới giao đất. Như vậy em có thể dựng vào điểm thứ 2 để nói là nhà em đã thanh toán đủ không? Vì nhà em đã nhận đất và ở được hơn 1 năm.

3. Phía ngân hàng nói có thể tìm lại được phiếu thu tiền mà ba em đã chuyển vào ngày 25.12.2013 để xem lại chữ kí. Chắc chắn không phải là chữ kí ba em mà do ông H này. Giờ em bối rối quá gia đình em quá chủ quan cứ nghĩ là đưa tiền rồi người ta đưa hợp đồng cho mình rồi thì ổn cũng không đọc hợp đồng lại luôn. Giờ em sợ ông H này lật lọng nói ba em chỉ đưa 458t bằng cách chuyển khoản chứ ổng không thu. Theo hợp đồng thì đưa tiền mặt phải lại tới trụ sở ở tp.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự công ty luật Minh Khuê.

 

Tư vấn hợp đồng mua đất ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả Lời:

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009

Nội dung phân tích:

Theo như dữ liệu bạn cung cấp thì gia đình bạn có mua một mảnh đất và trả tiền làm 2 đợt, trong hợp đồng có quy định việc thanh toán sẽ thực hiện tại trụ sở của công ty hoặc chuyển khoản. Do đó khi có 1 văn phòng đại diện đặt tại huyện bạn mà người quản lý cũng như nhận số tiền này là cháu của ông P, cũng như gia đình bạn có cầm về một bản hợp đồng có chữ ký của ông P.

1. Theo như việc bạn phân tích thì ông H đã mượn danh cha bạn để chuyển 458tr và đưa 1 bản hợp đồng là đã thanh toán với số tiền 658tr và việc cha bạn có đưa lại số tiền 658tr cho ông H để có thể cầm trên tay bản hợp đồng đã thanh toán với số tiền 658tr với mảnh đất trên và có chữ ký của ông P ( chủ mảnh đất ), thì có thể hiểu ông H đã có hành vi chiếm đoạt tài sản là 200tr và chỉ chuyển khoản 458tr 

2. Theo như hợp đồng thỏa thuận giữa gia đình bạn và ông P là khi chuyển 658tr thì mời giao đất, và việc gia đình bạn có trong tay bản hợp đồng đã thanh toán có chữ ký của ông P cũng như việc gia đình bạn đã sử dụng mảnh đất này hơn 1 năm mà không có bất kỳ tranh chấp nào xảy ra, do đó có thể hiểu gia đình bạn đã làm đúng theo yêu cầu của hợp đồng khi thỏa thuận thì mới có thể sử dụng mảnh đất này và vì thế có thể nói gia đình bạn đã thanh toán đầy đủ số tiền để được giao đất.

3. Khi ngân hàng cung cấp phiếu thu tiền và có chữ ký được cho là chữ ký của cha bạn thì bạn có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành giám định chữ ký. Theo đó gia đình bạn có thể mang theo tờ hợp đồng có chữ ký của ông P cũng như tờ biên lai thu tiền tại ngân hàng đến cơ quan có thẩm quyền trình báo. Theo đó ông H có thể phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 bộ luật hình sự. Theo đó Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản
- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịc
h một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên
Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email  hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự.