Khi anh A bán, anh A có trả tiền cho tôi nhưng còn thiếu lại 04 chai nước hoa, trị giá: 6.300.000 đồng. Nhưng khi tôi đòi số tiền còn lại, anh A hứa sẽ trả cho tôi, nhưng đến nay nhiều lần tôi điện thoại cho anh A nhưng anh A không bắt máy. Tôi nhắn tin nhắc anh thì anh hẹn nhiều lần.

Và đến nay, tôi nhắn tin nhắc anh A trả tiền, thì anh A cũng không trả lời. Trường hợp này tôi có thể tố cáo anh A lợi dụng sự tín nhiệm để chiếm đọat tài sản hay không ? Tôi chỉ có bằng chứng là những tin nhắn anh A nhiều lần hứa hẹn trả tiền cho tôi, như vậy có được không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.T.N

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê,

Tư vấn về việc giả chữ ký để vay tiền ngân hàng ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Vấn đề của bạn công ty xin được giải quyết như sau:

 

Căn cứ pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009     

Nội dụng: 

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 140 BLHS sửa đổi 2009 quy định: 

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Như vậy sẽ có hai trường hợp xảy ra: Thứ nhất: bằng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn chiếm đoạt tài sản của người khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay, mượn, thuê... Thứ hai là sử dụng tài sản được giao trên cơ sở hợp đồng vay, mượn, thuê... vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả. Như vậy, sau khi vay, mượn, thuê tài sản của người khác, người phạm tội phải có hành vi bỏ trốn hoặc bằng thủ đoạn gian dối (giả tạo bị mất, đánh tráo tài sản...) để chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng tài sản đó và mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản, thì mới đủ cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp này do không có căn cứ đầy đủ chứng minh A bỏ trốn hoặc dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản nên không thể khẳng định A phạm tội hay không. Tuy nhiên trường hợp này đã có dấu hiệu tội phạm vì A có hành vi trốn tránh nghĩa vụ trả nợ (hẹn nhiều lần không trả, nhắn tin gọi điện không trả lời....) nên bạn này có thể làm đơn tố giác tội phạm.  

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự.