Bản thân tôi học kinh tế và đang thất nghiệp nên rất vui và nhờ ông ấy giúp xin việc ở đó với mức kinh phí 250 triệu như yêu cầu. Ngày 15/10/2014 ông A yêu cầu nộp trước số tiền xin việc 50%(125.000.000đ) khi nào có quyết định thì nộp nốt số còn lại. Vì gia đình tin tưởng tuyệt đối về nhân thân, mối quan hệ rất lâu dài nên cũng chỉ nói ông A viết tay số tiền đã nhận theo hình thức mượn 1 tháng(không ghi lãi suất). Ngày qua ngày tôi vẫn không nhận được quyết định, ông A thì nói lý do thế nọ thế kia. Đến tháng 5/2015 Ông A cho tôi gặp một người tên B và nói ông B đang lo công việc cho tôi. Trong quá trình tiếp xúc tôi mới phát hiện ra qua ông B còn rất nhiều người, ông A, B cũng chỉ là trung gian trong đường dây xin việc. Đến tháng 6 năm 2015 ông B thông báo cho tôi vì bên ngành hàng không muốn xin được phải có thêm một cái chứng chỉ nghiệp vụ hàng không và ông B yêu cầu tôi đi học một khóa đào tạo nghiệp vụ hàng không 6 tháng với mức học phí quy định 35 triệu.

Tháng 11 tôi học xong Ông B nói với tôi yêu cầu tôi nộp nốt số tiền 75.000.000đ để lo việc cho thuận tiện, Ông B nói công việc của tôi ông B lo chạy việc với ông A là 150.000.000đ. Nhưng vì ông B nói vậy nên tôi chỉ gửi 75.000.000đ. Vì ông A là người nhận xin việc trực tiếp nên số tiền 75.000.000đ này tôi mang trực tiếp đến nhà ông A. Tổng số tiền hai lần giao cho ông A là 200.000.000đ. Vì hôm đó nhà ông A có việc nên ông A viết giấy biên nhận nhận tiền của tôi và nhờ tôi chuyển cho ông B. Lần này ông A viết giấy có nội dung cụ thể: Số tiền, ngày tháng và nói rõ ông B có trách nhiệm lo công việc vào đúng vị trí bên ngành hàng không trong năm 2015 nếu không ông B phải hoàn trả lại tiền gốc và lãi cho tôi. Tôi mang tiền cho ông B và ông B ký nhận và cam kết thực hiện đúng yêu cầu ông A đưa ra. Đến hết năm 2015 tôi đợi mãi vẫn chưa thấy kết quả và đã tìm hiểu có thể khẳng định ông B không có khả năng giúp xin việc, có dấu hiệu lừa đảo nên tôi đã đòi lại tiền.

Nhưng họ cứ khất lần, vòng vo. Ông A thì cho rằng tiền ông ta giao hết cho ông B, nếu có kiện ông ta cũng không bị tội. Tôi và gia đình quyết định kiện những người gây ra hậu quả này đối với tôi. Kính nhờ luật sư tư vấn cho tôi thủ tục kiện như thế nào? Ông A kiện bị tội gì, ông B kiện bị tội gì? Tiền học phí tôi phải nộp có lấy lại được không? Bản thân tôi nhờ giúp xin việc có phải là hành vi trái pháp luật không, giấy tờ vay lần đầu có hết thời hiệu pháp lý hay không?

Rất mong sự hồi đáp sớm của quý luật sư. Tôi xin trân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến,gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau: 

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009 (Bộ luật hình sự năm 2015, bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017)

2. Nội dung tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp, giữa gia đình bạn và người giúp xin việc đã giấy cam kết nhận tiền giúp xin việc, người kia đã nhận số tiền là 200.000.000 đồng, có thể thấy người này đã nhận tiền của bạn và hứa chạy việc cho bạn. Tuy nhiên, sau một thời gian người đó vẫn chưa thực hiện cam kết. Bạn muốn đòi tiền và khởi kiện hành vi của những người này. Tùy thuộc vào các tình tiết trên thực tế, mà hành vi đó mà có thể xác định là hành vi lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc chỉ là hành vi vi pháp luật dân sự (vi phạm hợp đồng dân sự). 

Thứ nhất, bạn có thể chuẩn bị hồ sơ khởi kiện về trách nhiệm dân sự: khi bạn giao tiền, vì tin tưởng nên chỉ có giấy viết tay theo hình thức mượn tiền do ông A viết và có giấy biên nhận của ông B. Do đó, bạn có thể khởi kiện ra tòa yêu cầu ông A và ông B thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Trách nhiệm của bạn là chứng minh và cung cấp các tài liệu, chứng cứ. Tòa cũng sẽ tiến hành xác minh những thông tin bạn cung cấp để giải quyết trong trường hợp có đầy đủ căn cứ.

- Thủ tục khởi kiện vụ án dân sự, hồ sơ bao gồm:

+ Đơn khởi kiện(Theo mẫu )

+ Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện

+ Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

+ Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Thứ hai, Trường hợp ông A và ông B là người không có khả năng xin được việc nhưng đã có những hành vi, thủ đoạn gian dối để cho bạn lầm tưởng rằng ông B có khả năng xin được việc để bạn tin tưởng giao tiền cho thì hành vi này có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung 2009):

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. 

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: 

a) Có tổ chức;

 b) Có tính chất chuyên nghiệp; 

c) Tái phạm nguy hiểm; 

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; 

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; 

g) Gây hậu quả nghiêm trọng. 

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: 

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; 

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. 

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: 

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; 

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. 

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Nếu trước khi nhận tiền, ông A và ông B không có thủ đoạn gian dối mà sau khi nhận tiền của bạn, ông B không xin được việc rồi mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản đó hoặc có dấu hiệu bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản bạn có thể làm đơn tố cáo gửi ra công an khu vực. Hành vi này có thể bị khởi tố về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

"1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Có tổ chức;

B) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

C) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

D) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

Đ) Tái phạm nguy hiểm;

E) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

B) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

A) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

B) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

- Thủ tục tố cáo hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đến cơ quan công an, viện kiểm sát, hồ sơ bao gồm:

+ Đơn tố cáo và đề nghị khởi tố gửi đến Cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân

+ Bằng chứng, chứng cứ kèm theo (nếu có)

Như vậy, trường hợp bạn có đầy đủ chứng cứ bạn có thể làm đơn khởi kiện hoặc tố cáo đến cơ quan có thẩm quyền về hành vi của ông A và ông B.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số1900.1940 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!                                  

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh KHuê