Thanh niên đó có cho tôi tài khoản để chuyển tiền về, do là tài khoản cùng hệ thống ngân hàng Vietcombank, nên tôi đã thực hiện giao dịch thanh toán qua hệ thống Mobile Banking (tuy nhiên sau này tôi được biết số tài khoản này không phải của người mà tôi trực tiếp giao dịch, mà của một thanh niên cùng phòng), lần đầu với giá 350 ngàn, sau đó tôi có mua bổ sung thêm là 700 ngàn, tổng giao dịch 2 lần là 1,050 ngàn, tài khoản đầu nhận đều báo có, họ hứa sẽ chuyển hàng cho tôi vào ngày hôm sau qua hệ thống bưu điện.

Nhưng hôm sau họ chỉ đóng gói và dán thông tin tôi vào rồi chụp ảnh báo cho tôi là đã gửi hàng, chứ thực ra họ chưa chuyển hàng cho tô. Tôi có yêu cầu họ chụp cho tôi số bưu thì họ bảo vất hóa đơn đi rồi, không tìm thấy. Nhiều ngày trong tuần do lo lắng nên tôi đã nhiều lần liên lạc yêu cầu họ chuyển thông tin hóa đơn giao hàng của họ, họ hứa nhưng không bao giờ nhận được. Đến gần 10 ngày tôi có cầm hình ảnh bọc hàng lên bưu điện (khu vực giao nhận bưu kiện để nhờ họ tìm giúp hàng hóa, nhưng bưu điện báo họ không nhận được), biết là bị lừa, tôi gọi điện liên tục yêu cầu họ chuyển hàng hoặc chuyển tiền thanh toán trả, họ đã chặn số máy từ tôi gọi đến, còn số điện thoại đã cho để trực tiếp liên hệ thì tắt máy hẳn.

Tài khoản Facebook đã thay đổi thông tin hoặc khóa nên không thể tìm được thông tin cụ thể của thanh niên trên, do vậy tôi có mang thông tin tài khoản của người mà tôi đã chuyển tiền vào yêu cầu ngân hàng Vietcombank tra soát và làm thủ tục truy hồi số tiền, Một mặt cố gắng liên lạc để yêu cầu hoàn trả tiền nhưng họ nói dối đã trả mà thực sự bên ngân hàng không nhận được thông tin yêu cầu trả tiền hoặc gửi với số tiền trên tới tài khoản của tôi và còn thách thức khi tôi tìm ra cậu ấy khi tôi yêu cầu báo công an về hình vi trên .

Với hành vi, và số tiền trên tôi có nên làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của cậu ta không tới cơ quan công an không ? < vì="" tài="" khoản="" tôi="" gửi="" tiền="" vào="" là="" tài="" khoản="" của="" bạn="" cùng="" phòng="" cậu="" ta="" )toàn="" bộ="" chứng="" từ,="" tin="" nhắn="" ,="" thông="" tin="" giao="" dịch="" chuyển="" tiền="" ,="" tôi="" đều="" có="" lưu="" lại="" ,="" toàn="" bộ="" thông="" tin="" và="" địa="" chỉ="" của="" chủ="" tài="" khoản="" trên="" bên="" ngân="" hàng="" có="" thẻ="" cung="" cấp="" khi="" có="" yêu="" cầu="" từ="" phía="" công="" an="">

Và trường hợp này tôi không rõ cậu ta đã lừa đảo được bao nhiêu người rồi , và hình thức xử phạt với cậu ta là như nào ?mức phạt ra sao ?

Rât mong luật sư trả lời cho tôi về trường hợp trên và hình thức gửi đơn tố cáo tới đâu.

Trân trọng cảm ơn luật sư ,

Người hỏi: VCD

Câu hỏi được biên tập từchuyên mục hỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê.

 

Trả lời:

Chào bạn! cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi, câu hỏi cuả  bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Căn cứ pháp lý:  Bộ Luật hình sự năm 1999 (Luật hình sự sửa đổi và bổ sung năm 2009); Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003.

Nội dung: Tổng số tiền bạn bị chiếm đoạt là một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng bạn dù là số tiền bạn chuyển vào tài khoản của bạn cùng phòng của người bán hàng cho bạn thì bạn vẫn có thể thông báo cho cơ quan công an về hành vi này vì rất có thể đây là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản có tổ chức và gây hậu quả nghiêm trọng. Bạn có thể gửi đơn tố cáo lên Công an và viện kiểm sát nhân dân quận, huyện nơi bạn cư trú hoặc làm việc đồng th ời cung cấp chứng cứ chứng minh cho cơ quan công an.

Điều 139 Bộ Luật hình sự quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

1.   Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2.   Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3.   Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 Điều 101 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định về tố giác và tin báo về tội phạm:

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản

4.   Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5.   Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Trân trọng./.

BỘ PHÂN TƯ VẤN LUẬT - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ