Chúng tôi đã trình báo công an vì thật sự hoảng loạn, không lâu sau này, chúng tôi nhận được tin từ công an rằng cô tôi bị bắt bên Trung Quốc, vì tội buôn bán ma túy. Thật sự gia đình tôi rất tuyệt vọng, vì nghe nói số lượng ma túy thu được lên tới 800gr, gia đình tôi bây giờ đang cuống cuồng vì nghĩ đến khung hình phạt cao nhất dành cho cô với số lương ma túy như thế. Cô còn con nhỏ, là người có nhân thân tốt, mới phạm tội lần đầu, liệu trường hợp này sẽ bị xử lý thế nào thưa luật sư? Việc chúng tôi nên làm lúc này là gì? cô tôi vẫn còn bị giam ở Trung Quốc, theo luật quốc tế? liệu cô tôi có được trả về VN để xử lý ko?  khi về VN chúng tôi có quyền thuê luật sư bào chữa cũng như gặp mặt trực tiếp cô để cùng giải quyết ko? hay cô sẽ bị biệt giam? Vì chúng tôi ko rõ cô nắm vai trò gì trong chuyến buôn này, và chất ma túy cô bán là thuộc loại j (Cocain, Heoin hay nhựa thuốc phiện, thuốc lắc...) vì khung phạt sẽ khác nhau.

Thưa luật sư, hiện tại gia đình chúng tôi vô cùng bối rối, không biết nên bắt đầu từ đâu, xin luật sư tư vấn cho chúng tôi biết và cho chúng tôi một hướng đi đúng nhất có thể.

Xin cảm ơn luật sư rất nhiều!

Người gửi: Van Anh

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục hỏi đáp pháp luậtcủa Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chúng tôi. Vấn đề của bạn, Luật Minh Khuê xin được trả lời như sau:

Điều 6 Bộ luật hình sự năm 1999 của Việt Nam quy định: “Công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo quy định của bộ luật này. Quy định này cũng được áp dụng đối với người không quốc tịch thường trú tại nước công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Tuy nhiên, Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự giữa CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa ký kết năm 1998 không quy định về dẫn độ tội phạm, do vậy cô của bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật Trung Quốc.

Sau khi có bản án phán quyết về hình phạt cụ thể của Tòa án phía Trung Quốc, nếu hình phạt là tù giam thì có thể được xem xét về nước để tiếp tục thi hành án theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 01/2013/TTLT-BCA-BTP-BNG-VKSNDTC-TANDTC. Điều 6 của Thông tư này quy định điều kiện tiếp nhận người đang chấp hành án phạt tù là:

1. Là công dân Việt Nam;

2. Có nơi thường trú cuối cùng ở Việt Nam;

3. Hành vi phạm tội của người đó bị kết án ở nước ngoài cũng cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật Việt Nam;

4. Vào thời điểm tiếp nhận chuyển giao, thời hạn chưa chấp hành án phạt tù phải còn ít nhất 01 năm, trong trường hợp đặc biệt, thời hạn này còn ít nhất 06 tháng;

5. Bản án đối với người được đề nghị chuyển giao về Việt Nam đã có hiệu lực pháp luật và không còn thủ tục tố tụng nào đối với người đó tại nước chuyển giao;

6. Nước chuyển giao và người bị kết án đều đồng ý chuyển giao. Trong trường hợp người bị kết án phạt tù là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì phải có sự đồng ý của người đại diện hợp pháp của người đó;

7. Tòa án có thẩm quyền của Việt Nam có quyết định đồng ý tiếp nhận đã có hiệu lực pháp luật.”

Điều 9 của Thông tư này quy định về trình tự, thủ tục yêu cầu chuyển giao; xem xét, quyết định việc tiếp nhận như sau:

- Công dân Việt Nam phạm tội và bị kết án phạt tù chung thân hoặc tù có thời hạn tại nước ngoài có nguyện vọng được chuyển giao về Việt Nam để tiếp tục chấp hành hình phạt còn lại có thể làm đơn (hoặc thông qua người đại diện hợp pháp) trình bày nguyện vọng đó với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc cơ quan đại diện Việt Nam.

- Trong vòng 10 ngày kể từ ngày nhận được đơn xin được chuyển giao của người đang chấp hành án phạt tù, cơ quan đại diện Việt Nam chuyển đơn, hồ sơ cho Bộ Công an để vào sổ hồ sơ.

- Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ yêu cầu tiếp nhận chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù, Bộ Công an vào sổ hồ sơ và kiểm tra hồ sơ theo quy định. Trường hợp hồ sơ hợp lệ, Bộ Công an chuyển ngay cho Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền 02 bộ hồ sơ để xem xét, quyết định có tiếp nhận chuyển giao về Việt Nam hay không.

- Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ yêu cầu tiếp nhận do Bộ Công an chuyển đến, Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền phải thụ lý và thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.

- Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thụ lý, tùy từng trường hợp mà Tòa án nhân dân cấp tỉnh ra một trong các quyết định sau;

a) Xem xét yêu cầu tiếp nhận khi có đủ các điều kiện quy định tại Điều 50 Luật tuơng trợ tư pháp và Điều 6 của Thông tư này;

b) Đình chỉ việc xem xét yêu cầu tiếp nhận và trả hồ sơ cho Bộ Công an trong trường hợp không thuộc thẩm quyền hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài hoặc người yêu cầu rút yêu cầu chuyển giao hoặc vì các lý do khác mà việc xem xét không thể tiến hành được.

Như vậy, cô của bạn cần làm đơn trình bày nguyện vọng của mình muốn về nước trong trường hợp chấp hành án phạt tù gửi cho cơ quan đại diện của Việt Nam tại Trung Quốc hoặc Bộ Công an của Việt Nam để có thể được chấp hành hình phạt tại Việt Nam.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật - Công ty luật Minh Khuê

--------------------------------------------

THAM KHẢO DỊCH VỤ TƯ VẤN LIÊN QUAN:

1. Tư vấn pháp luật lao động;

3.Tư vấn pháp luật lĩnh vực dân sự;

4. Tư vấn luật hành chính Việt Nam;

2. Luật sư riêng cho doanh nghiệp;

5. Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án.

6. Luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp hôn nhân gia đình;