Chạy thêm chừng 300 m, Thắng bỏ xe, chạy trốn. Toán bị dập nát hai chân và chết. Tội phạm mà Thắng đã thực hiện được quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS. Câu hỏi:

1. CTTP được quy định tại khoản 2 Điều 93 BLHS là CTTP cơ bản, tăng nặng hay giảm nhẹ của tội giết người? Tại sao?

2. Lỗi của Thắng trong trường hợp này là gì? Tại sao?

3. Phát biểu sau đây về vụ án đúng hay sai? Hãy giải thích: Nếu Thắng không bỏ trốn mà đến ngay cơ quan công an gần nhất để khai báo thì sẽ được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

4. Giả sử Thắng đã phạm tội cố ý gây thương tích, bị phạt 2 năm tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 4 năm. Sau khi chấp hành được 3 năm thử thách, Thắng phạm tội giết người nêu trên và bị phạt 10 năm tù thì hình phạt tổng hợp đối với Thắng là bao nhiêu năm tù?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi   1900.6162

Nội dung trả lời

 

 

 

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ Luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009

Nội dung tư vấn:

Điều 93 Bộ luật hình sự 1999 quy định:

"Điều 93. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a)  Giết nhiều người;

b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

c) Giết trẻ em;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng  hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

g)  Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h)  Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i)  Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k)  Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết  người thuê;

n)  Có tính chất côn đồ;

o)  Có tổ chức;

p)  Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

1. Cấu thành tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 93 là cấu thành tội phạm cơ bản, tăng nặng hay giảm nhẹ? Tại sao?

Cấu thành tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự 1999 là cấu tội phạm giảm cơ bản. Cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu định tội- dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép phân biệt tội này với tội khác.

Ở điều 93 BLHS đã có sự phân loại tội phạm với tội giết người, nhưng người làm luật thiết kế Điều 93 đặc biệt hơn so với các điều luật khác trong phần tội phạm. Đó là ở khoản 1 điều này lại là cấu thành tội phạm tăng nặng bao gồm: các dấu hiệu định tội và các dấu hiệu định khung tăng nặng (các tình tiết làm tăng thêm tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội bao gồm 16 tình tiết định khung được quy định tại Điều 48 BLHS). Khoản 2 Điều 93 đã chỉ rõ: "  Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm". Mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 93 là 15 năm thấp hơn so với mức cao nhất của khung hình phạt quy định tại Điều 93 là tử hình. Theo đó nếu như không có 16 tình tiết định khung tăng nặng tại các điểm từ a đến q của khoản 1 thì người phạm tội chỉ bị xử phạt theo khoản 2 Điều 93 BLHS.

Như vậy, khoản 2 Điều 93 BLHS là cấu thành tôi phạm cơ bản.

2. Lỗi của Thắng trong trường hợp này là gì? Tại sao?

Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đó gây ra, được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.

Lỗi của Thắng trong trường hợp này là lỗi cố ý mà cụ thể là lỗi cố ý gián tiếp.

Vì:

" Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra".

Xét dấu hiệu về mặt lý trí, người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thấy trước hành vi đó có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Trong trường hợp này khi anh Thắng đuổi anh Toán xuống khỏi xe, anh Toán đuổi theo và bám vào cửa xe phía anh Thắng đang ngồi lái, anh Thắng hoàn toàn đủ năng lực để nhận thức được rằng việc mình đẩy cửa xe ra lúc đó là việc làm nguy hiểm vì lúc đó xe đang chạy. Anh Thắng cũng hoàn toàn đủ khả năng để dừng xe lại giải quyết với anh Thắng mà không để lại hậu quả như trên.

Xét về mặt ý chí, người phạm tội không mong muốn hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội mà người phạm tội đã thấy trước không phù hợp với mục đích của người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là nhằm mục đích khác. Chính vì để thực hiện mục đích này mà người phạm tội dù không mong muốn hậu quả nguy hiểm mà họ có thể thấy trước nhưng đã ý thức đẻ mặc cho hậu quả đó xảy ra, Đối với người cố ý gián tiếp thì dù hậu quả có xảy ra hay không thì đều không đều không có ý nghĩa gì, không xảy ra cũng được và xảy ra cũng chấp nhận. Trong trường hợp này anh Thắng không muốn hâu quả là anh Toán chết xảy ra, mà chỉ là do trong lúc tức, xích mích với anh Toán nên anh Thắng mới đẩy cửa xe như vậy. Mặc dù biết việc mình làm có thể nguy hiểm cho anh Toán. Nhưng việc anh Toán chết nằm ngoài mong muốn và mục đích của anh Thắng.

Từ những phân tích về mặt lý trí và ý chí ta kết luận hình thức lỗi của Thắng trong tình huống trên là lỗi cố ý gián tiếp.

3. Phát biểu sau về vụ án đúng hay sai? Hãy giải thích: Nếu Thắng không bỏ trốn mà đến ngay cơ quan công an gần nhất để khái báo thì sẽ được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. 

Phát biểu trên là sai, Vì:

Điều 19 BLHS Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội:

"Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản.

Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này."

Ngay trong điều luật đã khẳng định tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm nữa. Vì giả thiết trên, Thắng không bỏ trốn mà đến ngay cơ quan Công an để đầu thú thì không thỏa mãn điều kiện không thực hiện tội phạm đến cùng. Lúc này dù Thắng có đi đầu thú thì cũng không làm thay đổi hay ngăn chặn được hậu quả xảy ra. Cụ thể:

Việc anh Thắng không bỏ trốn mà đi đầu thú, giả thiết xảy ra khi anh ta thực hiện xong tội phạm của mình. Khi anh Toán bị ngã anh Thắng không có hành vi để cứu giúp. Dù hậu quả là anh Toán chết không đúng với mong muốn hay mục đích của anh Thắng thì tội phạm cũng đã hoàn thành. Anh Thắng cố lỗi cố ý gián tiếp gây chết người. mà theo quy định của luật hình sự hành vi tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là hành vi không thực hiện đến cùng tội phạm, nghĩa là tội phạm chỉ mới ở giai đoạn chuẩn bị hoặc giai đoạn chưa đạt, chưa hoàn thành.

Như vậy việc anh Thắng không bỏ trốn mà đến cơ quan Công an gần nhất để đầu thú chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

4. Giả sử Thắng đã phạm tội cố ý gây thương tích, bị phạt 2 năm tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 4 năm. Sau khi chấp hành được 3 năm thử thách, Thắng phạm tội giết người nêu trên và bị phạt 10 năm tù thì hình phạt đối với Thắng được quyết định như thế nào?

Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm của người phạm tội phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình.

Theo Điều 2 BLHS thì " chỉ những người nào phạm tội đã được BLHS quy định thì mới phải chịu TNHS". Trước hết cần phải xác định những hành vi đó đã thỏa mãn những dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể chưa? Ở giả thiết nêu trên: trước khi giết người Thắng đã phạm tội cố ý gây thương tích bị phạt 2 năm tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 4 năm. Điều kiện thử thách của án treo là nghĩa vụ luật định mà người được hưởng án treo phải thực hiện trong thời gian thử thách. Nhưng sau khi chấp hành được 3 năm thử thách, Thắng phạm tội giết người nêu trên. Như vậy Thắng đã vi phạm vào điều kiện thử thách có tính răn đe nên phải chịu những hậu quả pháp lý bất lợi của mình. Hậu quả pháp lý bất lợi này được quy định tại khoản 5 Điều 60 BLHS"

" Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này."

Ở giả thiết trên, Thắng đã phạm tội cố ý gây thương tích, bị phạt 2 năm tù cho hưởng án treo và thời gian thử thách là 4 năm. Sau khi chấp hành được 3 năm thử thách, Thắng phạm tội giết người nêu trên và bị phạt 10 năm tù. Hình phạt lúc này đặt ra đối với Thắng sẽ là tổng hợp hình phạt của nhiều bản án được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS:

"Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 50 của Bộ luật này.". Bản án mới đặt ra cho tội giết nguwoif của Thắng lúc này là 10 năm tù.

Đi đến quyết định cuối cùng tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm tội này thì căn cứ mục b khoản 2 Điều 50 BLHS: 

"Nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên."

Như vậy sau khi tổng hợp các hình phạt cuối cùng của nhiều bản án thì hình phạt đối với Thắng sẽ là 10 năm tù của bản án mới đã tuyên cho tội giết người và cộng với 2 năm tù của bản án trước do tội cố ý gây thương tích. Tổng hợp bản án là 12 năm tù đối với Thắng.

Như vậy vấn đè TNHS tiếp tục được đặt ra đối với Thắng và bản án dành cho Thắng là 12 năm tù.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!                          

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự​.