1. Tư vấn quy định pháp luật về hành vi đánh người gây thương tích ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em trai tôi mới mãn hạn tù được 01 năm về nhà đang làm ăn đàng hoàng thì có xích mích với người hàng xóm nên đã gây thương tích cho người ta rồi bỏ trốn. Gia đình tôi cũng tận tâm chăm sóc đưa đi chụp khám và bồi thường cho người bị hại. Phía công an đã đưa người bị hại đi giám định sức khỏe. Vậy tôi muốn hỏi là: Nếu như bên bị hại không đưa đơn kiện, mà bên công an chỉ căn cứ vào lời khai của bị hại thì em trai tôi có bị kết án không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Đ.Đ.L

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề bạn thắc mắc chúng tôi xin được giải đáp cho bạn như sau:

Theo như thông tin mà bạn cung cấp thì em trai bạn có xích mích với người hàng xóm nên đã gây thương tích cho người ta rồi bỏ trốn. Vì bạn không nói rõ tỉ lệ thương tật sau khi người đó giám định là bao nhiêu phần trăm? Đã đủ yếu tố để bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 104 BLHS 2009. Cụ thể Điều 104 BLHS có quy định:

"Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Nếu thuộc trường hợp theo khoản 1 Điều 104 của BLHS thì em bạn sẽ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đơn yêu cầu khởi tố của người bị hại. Nếu bị hại không có đơn yêu cầu thì cơ quan điều tra không được truy cứu trách nhiệm hình sự với em bạn. Căn cứ Điều 105 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 có quy định những trường hợp chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại như sau:

"Điều 105. Khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất...."

Nếu tỉ lệ thương tật không thuộc khoản 1 mà thuộc khoản 2,3,4 của Điều 104 BLHS thì không phụ thuộc vào yêu cầu của người bị hại mà cơ quan công an có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự em bạn về hành vi cố ý gây thương tích theo Điều 104 BLHS khi có dấu hiệu tội phạm.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài gọi 1900.6162.

Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Tội vô ý gây thương tích bị xử lý thế nào theo quy định mới của luật hình sự ?

2. Gây thương tích 17% bị truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào ?

Thưa Công ty Luật Minh Khuê, tôi có câu hỏi muốn được giải đáp: Chồng tôi có đánh một người gây thương tích 17% do người này đã vu khống ba chồng tôi ăn cắp điện trong rẩy,và thường xuyên chửi rủa ba mẹ chồng tôi,đồng thời cắt điện không cho gđ chồng tôi xài(đồng hồ bắt chung)do chồng tôi làm ăn xa nghe tin vậy xót ruột đã xảy ra ẩu đả.

Khi đánh có 2 người vết thương chồng tôi đánh(dùng gạch) 2% còn người kia đánh là 15%,gđ tôi đã đến xin lồi và bồi thường nhưng họ đòi 150 triệu con số quá lớn và ko chịu bãi nại,vậy trong trường hợp chồng tôi bị ra toà xét xử thì mức án thế nào và có xin hưởng án treo đươc ko?

Tôi xin chân thành cám ơn!

Gây thương tích 17% bị truy cứu trách nhiệm hình sự như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Như vậy, chồng bạn gây thương tích cho 2 người đều thuộc trường hợp trên cho nên nếu bị kiện ra Tòa, chồng bạn bị phạt cải tạo không giam giữ đén 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm tùy từng trường hợp. Ngoài ra, chồng bạn còn phải bồi thường thiệt hại cho hai người đó do sức khỏe bị xâm phạm cụ thể là: chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc; khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

3. Bồi thường thiệt hại khi gây thương tích, xúc phạm danh dự ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Chồng tôi thừa nhận có tình cảm với người con gái khác, một hôm tức giận tôi đã tìm đánh cô ấy, cụ thể: đã đánh vài bạt tay vào mặt và đánh bầm tím 1 mắt và nói " mày dám ở với chồng tao, tao đánh cho mày chừa".

Cô ta làm đơn thưa tôi ra UBND xã, đòi tôi bồi thường thiệt hại, thưa tôi xúc phạm danh dự. Tôi biết hành động của tôi sai, đồng ý bị xử phạt, theo luật sư tôi sẽ bị phạt như thế nào theo quy định hiện hành của pháp luật? Trân trọng cảm ơn.

Người gửi: G.L

Bồi thường thiệt hại khi gây thương tích, xúc phạm danh dự ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về chuyên mục của chúng tôi. Câu hỏi của bạn được chúng tôi trả lời như sau:

Hành vi đánh ghen của chị đã gây ra thương tích cho người kia, hành vi này có thể cấu thành tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009), cụ thể như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân".

Như vậy, nếu như người bị hại giám định tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các điểm quy định tại khoản 1 nêu trên thì chị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu bị truy cứu TNHS chị có thể được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm đ khoản 1 điều 46 BLHS đó là: "đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;" (hành vi ngoại tình cũng vi phạm pháp luật về nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng).

Ngoài ra, nếu như không đủ yếu tố để cấu thành tội cố ý gây thương tích nêu trên thì hành vi của chị có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo Điểm e, khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình: Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: ...e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác...

Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Bồi thường thiệt hại khi đánh người gây thương tích ?

4. Gây thương tích đối với tên cướp có bị xử lý hình sự ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Bạn tôi có cố tình gây thương tích tai nhà riêng vì có 1 tên cướp đến nhà ăn trộm đồ và cầm dao đe dọa 6 người thân của bạn tôi. Vậy theo luật thì bạn tôi có phải vào tù không hay bị pháp luật trừng phạt như thế nào ạ ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.Q

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến thư mục tư vấn của công ty Luật Minh Khuê. Câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 15 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi 2009 quy định:

Điều 15. Phòng vệ chính đáng

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.

Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm.

2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo thông tin bạn cung cấp thì người bạn của bạn gây thương tích khi tên trộm cầm dao đe dọa 6 người thân của bạn đó. Chúng tôi chia các trường hợp như sau:

- Một là, nếu hành vi của tên trộm khi đó là tấn công bạn hoặc người thân của gia đình bạn với hung khí nguy hiểm là con dao, bất chấp tính mạng của người khác để nhằm mục đích chạy trốn, vì vậy bạn của bạn không còn cách nào khác phải tấn công lại nhằm phòng vệ và ngăn chặn hành vi nguy hiểm của tên trộm, và đã dẫn đến hậu quả là tên trộm bị thương tích. Như vậy, hành vi của người bạn này lúc ấy được coi là cần thiết, cấp thiết buộc phải phản ứng, phải chống trả lại một cách tương xứng để ngăn ngừa hậu quả xấu có thể xảy ra với mình hoặc người thân thì hành vi này được coi là phòng vệ chính đáng và sẽ không phạm tội (Theo quy định tại khoản 1, Điều 15, BLHS). Do đó, bạn của bạn không phải chịu TNHS về hành vi của mình.

- Hai là, nếu tên trộm cầm dao nhưng không có biểu hiện của việc dùng con dao này để gây thương tích, làm nguy hại đến bạn và gia đình (như giơ dao lên đòi đâm, chém...) mà chỉ dùng chân, tay để thực hiện hành vi vũ lực, làm náo loạn, nhưng bạn của ban đã có hành vi gây thương tích cho tên trộm mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người, thì người bạn này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” vì hành vi phản ứng của bạn rõ ràng là quá mức cần thiết, không tương xứng với hành vi của tên trộm theo quy định tại Khoản 2 Điều 15 và Điều 106 BLHS:

Điều 106. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên hoặc dẫn đến chết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

2. Phạm tội đối với nhiều người thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.

Khung hình phạt đối với tội phạm này là phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. Mức hình phạt cụ thể còn tùy thuộc tỷ lệ thương tật của nạn nhân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trong vụ án.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162. Trân trọng./.

5. Xử lý thế nào trong trường hợp đánh người gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động ?

Chào luật sư, Cháu có một vụ án mong luật su giúp cháu giải quyết. Sau khi đi làm về D gửi cây cuốc cho C. Hôm sau D đến nhà C lấy lại cây cuốc thì bà N mẹ của C cho rằng D còn nợ 15.000 ngàn đồng chưa chả nên bà lấy cây cuốc trừ nợ. D về nói lại với cha ruột là ông B, do tức giận nên ông B và D sang nhà bà N để nói chuyện.

Trong lúc lời qua tiếng lại thì ông B nhặt lấy cây củi trước nhà bà N xông vào đánh C. Thấy vậy D cũng nhặt lấy câu củi chạy theo ông B. Liền lúc đó bà N nhặt cây củi khác đánh vào đầu làm D té ngã xuống đất. Ông B quay lại đánh nhau với bà N thì bị bà Ng đánh gãy tay phải, thì được mọi người xung quanh ngăn cả. Hậu quả ông B bị thương với tỷ lệ15% còn D thì bị trấn thương sọ não với tỷ lệ là 31%. Vậy luật sư cho cháu hỏi trong trường hợp này thì bà Ngay có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Và vụ án sẽ được giải quyết như thế nào ?

Cháu mong nhận được câu trả lời sớm từ luật sư. Cháu trân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi thắc mắc về cho chúng tôi, với vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì vụ việc trên có dấu hiệu của tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 (Luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009) văn bản mới Bộ luật hình sự mới nhất năm 2015 .

Điều 104 BLHS quy định như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a. Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b. Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c. Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d. Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ. Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e. Có tổ chức;

g. Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h. Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i. Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k. Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

Theo đó, bà N gây thương tích cho D với tỷ lệ thương tật là 31% rất có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 của Điều này nếu có đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Về việc xác định hung khí nguy hiểm bạn có thể tham khảo tại tiểu mục 3.1 Mục 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP.

Tuy nhiên, theo phân tích các tình tiết của vụ việc trên, thì bà N cũng có thể sẽ chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 105 BLHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động.

Điều 105 quy định như sau:

"1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Đối với nhiều người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác".

Sở dĩ nói như vậy là vì:

Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra là trường hợp trước khi có hành vi phạm tội, người phạm tội không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức do hành vi trái pháp luật của người người bị hại hoặc khác gây ra.

Để xác định trường hợp người phạm tội bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra phải căn cứ vào các yếu tố sau:

- Trạng thái tinh thần của người phạm tội phải ở trạng thái bị kích động: Người bị kích động về tinh thần là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức. Lúc đó họ mất khả năng tự chủ và không thấy hết được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình; trạng thái này chỉ xảy ra trong chốc lát, sau đó tinh thần của họ trở lại bình thường như trước; trạng thái tinh thần bị kích động ở những mức độ khác nhau. Đây được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 46 BLHS.

- Phải có hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác: Người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra (khoản 1 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự).

- Hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác phải là nguyên nhân làm cho người phạm tội bị kích động mạnh về tinh thần: Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với tinh thần bị kích động là mối quan hệ tất yếu nội tại có cái này thì ắt có cái kia. Không có hành vi trái pháp luật của người khác thì không có tinh thần bị kích động của người phạm tội.

- Hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác phải là hành vi đối với người phạm tội hoặc đối với người thân thích hoặc hoặc đối với người khác có quan hệ thân thiết với người phạm tội.

Xét trong trường hợp này, hành vi đánh D của bà N là do ông B và D đã kéo sang nhà bà N tranh cãi, không những thế ông B còn ra tay đánh C là con trai của bà N. Việc nhìn thấy người khác đánh con của mình thì không ai có thể đứng yên được, do đó, vì quá kích động nên bà N đã ra tay đánh D bị thương, khi đanh D có thể bà N không lường trước được hành vi đó của mình lại gây hậu quả nghiêm trọng đến vậy.

Do vậy, bà N có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 15 về thội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Tuy nhiên, nếu ông B và bà D có thể thương lượng thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại thì bà N có thể không bị khởi tố, vì đây là một trường hợp đặc biệt, nếu ông B có yêu cầu khởi tố bà N thì bà N mới bị khởi tố theo quy định tại Điều 105 BLTTHS.

Để hiểu rõ hơn quy định tại Điều 105 bạn có thể tham khảo bài viết dưới đây của chúng tôi: Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Gây thương tích do tình thế cấp thiết có phải chịu TNHS không?

Thưa luật sư, Em đang làm một chuyên đề về pháp luật hình sự. Em đã tìm hiểu nhưng không giải đáp được câu hỏi "Gây thương tích do tình thế cấp thiết có phải chịu TNHS không?".
Xin luật sư định hướng dùm. Em cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo Điều 16 Bộ Luật hình sự năm 1999, Luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 , Luật hình sự năm 2015:

“1. Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ đang thực tế đe doạ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa.

Hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải là tội phạm.
2. Trong trường hợp thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, thì người gây thiệt hại đó phải chịu trách nhiệm hình sự.”
Trong trường hợp của bạn, để ngăn ngừa việc cô gái bị thiệt mạng do bị xe ô tô đâm vào mà bạn đã gây thương tích cho cô gái, cụ thể là bị gãy tay. Thiệt hại do bạn gây ra chắc chắn nhỏ hơn so với việc bạn để cho vụ tai nạn xảy ra. Do đó, trường hợp của bạn được coi là tình thế cấp thiết. Chính vì vậy, bạn sẽ không phải chịu TNHS trong tình huống này.

Trách nhiệm bồi thường trong trường hợp tình thế cấp thiết:

“Bồi thường thiệt hại trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

1. Người gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không phải bồi thường cho người bị thiệt hại.

2. Trong trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì người gây thiệt hại phải bồi thường phần thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết cho người bị thiệt hại.

3. Người đã gây ra tình thế cấp thiết dẫn đến thiệt hại xảy ra thì phải bồi thường cho người bị thiệt hại.”

Việc bị hỏng chiếc điện thoại và bị gãy tay chắc chắn sẽ nhỏ hơn việc bị thiệt hại tính mạng nên yêu cầu bồi thường của cô gái là không đúng cả về tình về lý và pháp luật. Như vậy, bạn sẽ không phải bồi thường thiệt hại bất cứ một khoản nào cho cô gái đó.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê