1. Tư vấn quy trình xác lập hiện trường vụ án tai nạn giao thông ?

Thưa luật sư, Gia đình chúng tôi ngày hôm qua ( 17/06/2013 ) có gặp vụ va chạm giao thông. Vụ việc được công an quận CG thụ lý giải quyết và hẹn gặp vào 9h sáng ngày 18/06/2013. Ngay trong khi thực hiện các quy trình giải quyết theo Quyết định số 18/2007/QD-BCA của công an quận CG, chúng tôi nhận thấy có những vấn đề không rõ ràng và thiếu thuyết phục. Vậy rất mong quý Công ty tư vấn để chúng tôi được rõ ràng.

Tư vấn quy trình xác lập hiện trường vụ án tai nạn giao thông?

Sự việc cụ thể như sau: Việc va chạm giữa taxi hãng ML và xe máy do em vợ tôi điều khiển vào thời gian 15h ngày 17/06/2013 vị trí tại điểm giao cắt giữa đường nam trung yên và dương đình nghệ ( tôi gửi kèm theo sơ đồ hiện trường chụp được ).
Ảnh hiện trường do khách hàng cung cấp
(Ảnh hiện trường do khách hàng cung cấp)
Sau khi xảy ra sự việc, bên hãng ML đã cử người đưa e tôi ra viện 198 để chiếu chụp và băng bó vết thương. Đồng thời, người gia đình tôi đã gọi điện thông báo cho CAGT quận CG. CAGT sau đó ít phút có mặt và đề nghị 2 bên tự giải quyết, nếu ko giải quyết được thì họ sẽ làm theo đúng trình tự. Kết quả là gia đình tôi và ML ko thống nhất được cách giải quyết và đề nghị bên CAGT xử lý. Cách xử lý họ thực hiện như sau:
1. Lập sơ đồ, đo vẽ hiện trường ( chỉ vẽ, chụp ảnh nhưng không ký gì mặc dù bên gia đình tôi có thắc mắc )
2. Lập biên bản thu giữ phương tiện của 2 bên.
Toàn bộ công việc chỉ có vậy và không thực hiện các bước như: lấy lời khai của 2 bên và người chứng kiến, không ghi các mô tả sự việc tại hiện trường....
Vậy rất mong quý Công ty tư vấn cho gia đình tôi cách giải quyết đối với phía CAGT  và bên gây tai nạn là Công ty ML về chi phí bồi thường, mức phạt...
Rất mong nhận được sự hồi đáp sớm.
Trân trọng!
Người gửi: Lê Anh Tuấn
 

Trả lời:

Chào bạn! Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến công ty. Về vấn đề của bạn Công ty xin được giải đáp như sau:

Thứ nhất, về quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông:

Căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 38 Luật giao thông đường bộ năm 2008về Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi xảy ra tai nạn giao thông thì:

"  Cơ quan công an khi nhận được tin về vụ tai nạn có trách nhiệm cử người tới ngay hiện trường để điều tra vụ tai nạn, phối hợp với cơ quan quản lý đường bộ và Ủy ban nhân dân địa phương bảo đảm giao thông thông suốt, an toàn."

Căn cứ quy định tại Điều 3 Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA ban hành quy trình điều tra xử lý vi phạm giao thông về việc nhận tin và xử lý thông tin tai  nạn thì:

" 1. Nhận tin:

Khi nhận được tin báo có vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, cán bộ, chiến sỹ nhận tin phải hỏi rõ và ghi vào sổ nhận tin các thông tin sau:

a) Họ tên, địa chỉ, số điện thoại (nếu có) của người báo tin;

b) Thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn (ghi rõ giờ, ngày, tháng, năm, tại km, đường, thuộc thôn (phố), xã (phường, thị trấn), huyện (quận, thành phố thuộc tỉnh), tỉnh (thành phố trực thuộc Trung ương);

c) Phương tiện giao thông có liên quan đến tai nạn (biển số xe, loại xe, màu sơn);

d) Họ tên, địa chỉ của người điều khiển phương tiện giao thông liên quan đến tai nạn;

đ) Họ tên, địa chỉ những người liên quan hoặc người biết vụ tai nạn xảy ra;

e) Thiệt hại ban đầu về người, tài sản (số người chết, bị thương và phương tiện bị phá hủy hoặc hư hỏng);

g) Những thông tin khác về vụ tai nạn giao thông.

2. Xử lý tin:

Cán bộ, chiến sỹ nhận tin phải báo cáo ngay vụ tai nạn giao thông đường bộ cho lãnh đạo trực chỉ huy đơn vị biết. Lãnh đạo trực chỉ huy đơn vị khi nhận được báo cáo phải xử lý như sau:

a) Tổ chức lực lượng cấp cứu người bị nạn, bảo vệ hiện trường, giải tỏa ùn tắc giao thông:

- Trường hợp Cục C26 nhận được tin báo vụ tai nạn giao thông thì điện cho Phòng Cảnh sát giao thông nơi xảy ra tai nạn để giải quyết;

- Trường hợp PC26 hoặc Đội, Trạm thuộc PC26 nhận được tin báo vụ tai nạn giao thông xảy ra trên tuyến giao thông được phân công tuần tra kiểm soát hoặc gần trụ sở cơ quan thì cử cán bộ đến hiện trường giải quyết;

- Trường hợp Công an quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh nhận được tin báo vụ tai nạn giao thông thuộc địa bàn của mình thì cử cán bộ, chiến sĩ đến hiện trường giải quyết;

b) Khi nhận được báo cáo hoặc khi Cảnh sát giao thông xác định:

- Vụ tai nạn giao thông có người chết tại hiện trường (kể cả chết trên đường đi cấp cứu) thì phải báo ngay cho đơn vị Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội thụ lý điều tra theo quy định tại khoản 4 Điều 4 Quy định phân công trách nhiệm và quan hệ phối hợp trong công tác điều tra giải quyết tai nạn giao thông của lực lượng Cảnh sát nhân dân ban hành kèm theo Quyết định số 768/2006/QĐ-BCA (C11) ngày 20/6/2006 của Bộ trưởng Bộ Công an (dưới đây gọi tắt là Quy định 768/2006/QĐ-BCA (C11);

- Vụ tai nạn giao không có người chết tại hiện trường thì phải cử ngay cán bộ, chiến sỹ hoặc báo ngay cho đơn vị Cảnh sát giao thông thụ lý điều tra theo quy định tại Điều 7 Quy định 768/2006/QĐ-BCA (C11);

- Trường hợp liên quan đến người nước ngoài, thì thông báo cho Sở Ngoại vụ; liên quan đến người, phương tiện của Quân đội thì thông báo cho cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền trong Quân đội để biết và phối hợp với lực lượng Cảnh sát thực hiện công tác điều tra ban đầu.

c) Trường hợp vụ tai nạn giao thông đường bộ liên quan đến phương tiện giao thông đường sắt thì giải quyết theo Chương II Quy trình điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường sắt;

d) Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm có liên quan đến hiện trường để phối hợp giải quyết hậu quả vụ tai nạn."

Như vậy, khi nhận tin CSGT phải đảm bảo thực hiện được những nhiệm vụ nêu trên.

Cụ thể, những việc mà CSGT phải làm ngay khi đến hiện trường được quy định tại Điều 4 Quyết định trên như sau:

" Cảnh sát giao thông hoặc các lực lượng Cảnh sát khác khi đến nơi xảy ra tai nạn giao thông cần làm ngay những việc sau:

1. Tổ chức cấp cứu người bị nạn:

a) Đánh dấu vị trí người bị nạn trước khi đưa đi cấp cứu

Trường hợp sử dụng phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn giao thông để đưa người bị nạn đi cấp cứu phải đánh dấu vị trí của phương tiện, sơ bộ ghi nhận các dấu vết trên phương tiện, tạm giữ giấy tờ của phương tiện và giấy tờ của người điều khiển phương tiện;

b) Đánh dấu vị trí người bị nạn đã chết và che đậy nạn nhân;

Trường hợp người bị nạn đã chết có thể gây ùn tắc giao thông, ảnh hưởng đến sự đi lại, thì đánh dấu vị trí người bị nạn rồi đưa vào lề đường che đậy lại.

2. Kiểm tra, tạm giữ giấy tờ của người và phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông; trường hợp phương tiện giao thông liên quan đến vụ tai nạn giao thông có thể gây ùn tắc giao thông, ảnh hưởng sự đi lại thì đánh dấu vị trí phương tiện giao thông, sơ bộ ghi nhận các dấu vết trên phương tiện rồi đưa vào vị trí thích hợp để bảo quản.

3. Tổ chức bảo vệ hiện trường:

a) Khoanh vùng bảo vệ hiện trường, có biện pháp bảo quản tài sản, tư trang của người bị nạn, hàng hóa trên phương tiện liên quan đến tai nạn (khi bảo vệ hiện trường chú ý không làm xáo trộn hiện trường);

b) Quan sát để phát hiện và ghi nhận sơ bộ các dấu vết, đồ vật để lại trên hiện trường, trên các phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; ghi nhận những thay đổi ở hiện trường trong quá trình tổ chức cấp cứu người bị nạn;

c) Tìm những người biết vụ tai nạn xảy ra; ghi rõ họ tên, số chứng minh nhân dân, địa chỉ thường trú, số điện thoại (nếu có) của người biết vụ tai nạn hoặc đề nghị người biết vụ tai nạn giao thông viết bản tường trình phục vụ công tác điều tra;

4. Tổ chức giao thông:

a) Trường hợp hiện trường vụ tai nạn giao thông không ảnh hưởng nhiều đến việc lưu thông của các phương tiện giao thông thì tổ chức hướng dẫn giao thông không để xảy ra ùn tắc;

b) Trường hợp hiện trường vụ tai nạn giao thông gây ùn tắc thì báo cáo lãnh đạo chỉ huy đơn vị của mình, phòng Cảnh sát giao thông nơi xảy ra tai nạn có phương án tăng cường lực lượng, phương tiện, phân luồng giao thông để giải quyết.

5. Trường hợp người gây tai nạn giao thông bỏ chạy thì vẫn phải thực hiện theo trình tự tại các khoản 1, 2, 3 nêu trên; đồng thời tổ chức truy tìm theo Điều 27 của Quy trình này.

6. Khi bộ phận khám nghiệm đến hiện trường, thì bàn giao lại những công việc đã làm ở hiện trường cho bộ phận khám nghiệm, đồng thời tiếp tục bảo vệ hiện trường và thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 2 hoặc điểm a, b khoản 3 Điều 7 Quy định 768/2006/QĐ-BCA(C11) cho đến khi khám nghiệm xong."

Như vậy. CSGT đã không thực hiện quy định tại điểm c khoản 3 nêu trên là chưa đảm bảo đúng quy trình điều tra.

Về việc tạm giữ phương tiện được quy định tại Điều 10 Quyết định này như sau:

" 1. Tạm giữ phương tiện giao thông có liên quan:

a) Khi vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra, các phương tiện giao thông có liên quan đều phải được tạm giữ để phục vụ công tác khám nghiệm, điều tra giải quyết (trừ các phương tiện giao thông ưu tiên theo quy định). Việc tạm giữ phương tiện giao thông phải được lập biên bản, ghi rõ tình trạng phương tiện bị tạm giữ;

b) Trường hợp vụ tai nạn giao thông đường bộ có dấu hiệu tội phạm thì đơn vị Cảnh sát giao thông tạm giữ phương tiện có trách nhiệm bàn giao phương tiện bị tạm giữ cùng với hồ sơ vụ án cho đơn vị điều tra tội phạm về trật tự xã hội có thẩm quyền;

c) Trường hợp tai nạn giao thông không có dấu hiệu tội phạm thì phương tiện giao thông bị tạm giữ được xử lý như sau:

- Đối với vụ tai nạn sau khi khám nghiệm phương tiện xong, xác định người điều khiển phương tiện không có lỗi thì phương tiện phải được trả ngay cho chủ sở hữu hoặc người điều khiển phương tiện;

- Các trường hợp khác việc tạm giữ phương tiện phải thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Chú ý: Khi tạm giữ và trả phương tiện phải có quyết định và biên bản theo quy định của pháp luật.

2. Tạm giữ người điều khiển phương tiện giao thông:

- Việc tạm giữ người điều khiển phương tiện giao thông được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành.

- Khi tạm giữ người, cần thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn cho người bị tạm giữ."

Như vậy, trước khi tạm giữ phương tiện CSGT phải xác định vụ tai nạn có dấu hiệu tội phạm hay không. Nếu không có dấu hiệu tội phạm thì việc thực hiện tạm giữ phương tiện phải tuân thủ quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính( Điều 46) và các quy định khác có liên quan.

Ngoài thủ tục trên thì việc ghi lời khai, dựng lại hiện trường cũng được quy định trong trình tự giải quyết vụ tai nạn giao thông như sau:

" Điều 11. Dựng lại hiện trường

1. Trong quá trình điều tra vụ tai nạn giao thông nếu có căn cứ xác định hiện trường bị xáo trộn, hiện trường giả hoặc xét thấy cần thiết thì tổ chức dựng lại hiện trường. Khi dựng lại hiện trường nhất thiết phải có người chứng kiến, có thể mời người liên quan cùng tham gia.

2. Nội dung dựng lại hiện trường là phải xác định lại vị trí dấu vết, người bị nạn, phương tiện để lại ở hiện trường, xem xét lại những tình huống, hành vi và những tình tiết khi xảy ra vụ tai nạn giao thông; đo đạc và vẽ lại sơ đồ hiện trường; chụp ảnh để làm cơ sở so sánh đối chiếu.

3. Kết thúc việc dựng lại hiện trường phải lập biên bản, những người tham gia dựng lại hiện trường ký, ghi rõ họ, tên vào biên bản.

Điều 12. Ghi lời khai

1. Ghi lời khai của những người điều khiển phương tiện giao thông có liên quan:

Nội dung lời khai phải làm rõ vị trí của phương tiện giao thông trên mặt đường, hướng chuyển động, tốc độ, các thao tác kỹ thuật, những nhận biết trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn... Nếu phát hiện người điều khiển phương tiện khai chưa đúng, mâu thuẫn với dấu vết ở hiện trường, ở phương tiện, mâu thuẫn với lời khai của người bị nạn, người làm chứng... thì phải kiểm tra, xác minh, nghiên cứu đặt câu hỏi cho phù hợp để làm rõ sự thật về vụ tai nạn giao thông.

2. Ghi lời khai của người bị nạn và người có liên quan khác trong vụ tai nạn giao thông:

a) Trường hợp người bị thương nặng thì chỉ lấy lời khai khi được cán bộ y tế điều trị và người đó đồng ý; cần đặt câu hỏi ngắn gọn;

Nếu người đó có thể tử vong thì phải lấy sinh cung ngay. Trường hợp người bị nạn không thể nói được thì phải lập biên bản về việc đó và có xác nhận của cán bộ y tế điều trị;

b) Nội dung lời khai của người có liên quan phải bảo đảm khách quan, tỉ mỉ phản ánh tính hình trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn giao thông. Sau cùng phải hỏi họ nhận thức về vụ tai nạn gian thông đã xảy ra như thế nào.

3. Ghi lời khai của những người làm chứng:

a) Trường hợp có nhiều người làm chứng thì lấy lời khai của từng người;

Nội dung lời khai phải thể hiện được:

- Vị trí của người làm chứng (hướng nhìn, tầm nhìn xa, khoảng cách giữa người làm chứng đến nơi xảy ra tai nạn), họ có chú ý đến sự việc hay không, do đâu mà họ biết về vụ tai nạn;

- Hướng chuyển động của các bên liên quan đến tai nạn (người và phương tiện);

- Phần đường và tốc độ, thao tác xử lý của người điều khiển phương tiện trước, trong và sau khi xảy ra tai nạn, những tiếng động do va chạm giữa các phương tiện;

- Phản ứng của những người có liên quan trước khi xảy ra tai nạn;

- Vị trí của các phương tiện, người, đồ vật sau khi xảy ra tai nạn, vị trí đó có bị thay đổi không, nếu có thay đổi, xê dịch thì ai làm điều đó, vì sao;

- Trạng thái tâm lý của người gây tai nạn biểu hiện ra bên ngoài (ảnh hưởng của chất kích thích rượu, bia...);

- Các vấn đề khác có liên quan đến vụ tai nạn mà họ biết, còn ai biết về vụ tai nạn xảy ra;

- Tổ chức cho người làm chứng thực nghiệm xác định tính khách quan, xác thực về lời khai (nếu thấy có mâu thuẫn trong lời khai của người làm chứng).

b) Cảnh sát giao thông có thế đến nơi ở, nơi làm việc của người làm chứng để lấy lời khai. Đối với trẻ em dưới 16 tuổi khi ghi lời khai phải mời cha, mẹ, người đại diện hợp pháp hoặc thầy, cô giáo của người đó tham dự và ký tên vào biên bản.

4. Việc ghi lời khai của người liên quan và người làm chứng trong vụ tai nạn giao thông phải được lập biên bản theo đúng quy định của pháp luật."

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp thì CSGT đã không thực hiện đầy đủ thủ tục điều tra, xử lý tai nạn giao thông theo quy định. Bạn có thể thực hiện thủ tục khiếu nại nếu không đồng ý với quyết định hoặc hành vi hành chính này. Thủ tục khiếu nại được quy định cụ thể trong Luật khiếu nại năm 2011 như sau:

Về trình tự khiếu nại được quy định tại khoản 1 Điều 7:

" 1. Khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật, xâm phạm trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến người đã ra quyết định hành chính hoặc cơ quan có người có hành vi hành chính hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai đến Thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính."

Về hình thức khiếu nại quy định tại Điều 8:

"1. Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp.

2. Trường hợp khiếu nại được thực hiện bằng đơn thì trong đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại; tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại và yêu cầu giải quyết của người khiếu nại. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại ký tên hoặc điểm chỉ.

3. Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn khiếu nại hoặc người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Trường hợp nhiều người cùng khiếu nại về một nội dung thì thực hiện như sau:

a) Trường hợp nhiều người đến khiếu nại trực tiếp thì cơ quan có thẩm quyền tổ chức tiếp và hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại; người tiếp nhận khiếu nại ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Việc tiếp nhiều người cùng khiếu nại thực hiện theo quy định tại Chương V của Luật này;

b) Trường hợp nhiều người khiếu nại bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ nội dung quy định tại khoản 2 Điều này, có chữ ký của những người khiếu nại và phải cử người đại diện để trình bày khi có yêu cầu của người giải quyết khiếu nại;

c) Chính phủ quy định chi tiết khoản này.

5. Trường hợp khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện thì người đại diện phải là một trong những người khiếu nại, có giấy tờ chứng minh tính hợp pháp của việc đại diện và thực hiện khiếu nại theo quy định của Luật này."

Về thời hiệu khiếu nại được quy định tại Điều 9:

"Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại."

 

Thứ hai, Về hình phạt và mức phạt:

Mức và loại hình phạt còn tùy thuộc vào tính chất của vụ tai nạn bao gồm: hành vi, lỗi...của người gây tai nạn và nạn nhân , thêm vào đó là tình trạng sức khỏe của nạn nhân. Cụ thể:

- Nếu hành vi gây tai nạn được xác định có dấu hiệu tội phạm quy định tại Bộ luật hình sự thì sẽ bị xử lý theo quy định của luật này tùy vào tội phạm.

- Nếu hành vi gây tai nạn được xác định không có dấu hiệu tội phạm thì sẽ bị xử lý theo quy định tại Nghị định 171/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt

Nguyên tắc bồi thường được thực hiện theo quy định tại Điều 610 Bộ luật dân sự như sau:

" 1- Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, về phương thức bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2- Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế, thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Như vậy, hai bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại. Nếu không thỏa thuận được bạn có thể căn cứ vào các quy định xác định thiệt hại tại các điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều  615, Điều 616  Bộ Luật dân sự năm 2005 để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

>> Xem ngay: Rút đơn tố cáo người gây tai nạn giao thông thì người đó có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không ?

2. Bồi thường tai nạn giao thông đường bộ ?

Thưa luật sư.  xin luật sư cho em hỏi, bố của em là người đi bộ, đúng đường. Nhưng bị bà kia đụng phải, bà này đi xe máy, không đội nón bảo hiểm mà đội nón lá, găp gió mạnh bị nón úp che mặt nên không thấy đường đã lao xe vào người bố của em. Làm gãy chân, kết quả giám định thương tật 25%. Vậy cho e hỏi bà này có sai không ? Và theo pháp luật thì xử phạt thế nào, cảm ơn.
- Tran Khanh

3. Bị tai nạn giao thông xe máy dẫn đến tử vong nhưng không có giấy phép lái xe ?

Xin cho em hỏi em của em đi xe máy chính chủ có bão hiểm nhưng không có giấy phép lái xe máy nhưng em của em đã bị tử vong liệu bãi hiểm có hổ trợ gì không ạ ? cảm ơn!
- Hồ Văn Quyết

4. Tư vấn bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai nạn giao thông ?

Chào Luật sư, xin tư vấn cho em trường hợp như sau ạ. Bố và mẹ em gặp phải tai nạn giao thông khi đang lưu thông xe gắn máy cắt ngang qua đường để trở về nhà. Nhưng không may chỉ còn 1/4 đoạn đường ( gần chạm vạch dành cho xe thô sơ) thì bị một xe máy khác tông thẳng trực diện. 

Bố mẹ có quan sát cẩn thận, bật tín hiệu đèn xin qua đường và chạy với tốc độ khá chậm khoảng 20km/h. Tuy nhiên phía bên kia chay với tốc độ khá nhanh, do ở trang thái say xỉn, không hề thắng hay phanh lại, trên đường ko có vết trầy xước, xe tông thẳng trực diện vào xe của bố mẹ em, bố và mẹ em bị văng ra xa, mẹ em may 8 mũi ở trán, trầy xước nhẹ, tuy nhiên bố bị gãy 1/3 chân, đa chấn thương, đặc biệt vùng não. Bố thực hiện ca mổ hộp sọ và não ở bv tỉnh và sau đó được chuyển thẳng bv thành phố để tiếp tục điều trị, 10 ngày sau tình trạng sức khỏe ngày càng xấu và và qua đời. Gia đình em phải chịu đựng sự đau buồn và khó khăn rất lớn về mặt tinh thần lẫn vật chất.

Xin Luật sư tư vấn giúp em mức bồi thường như thế nào là đúng và hợp lý cho gia đình em, em nên lập luận và lý lẽ ra sao, bởi kể từ lúc bố mất và mẹ bị thương đến nay gia đình phía bên kia chưa từng đến thăm hỏi và chi trả bất cứ số tiền nào để hỗ trợ cho gia đình em. Gia đình em, 2 chị em em đang là sinh viên đại học, ở nhà còn phải chăm lo cho bà nội của em nay đã 84 tuổi ?

Cuộc sống gia đình đang rất bế tắc, Xin Luật sư giúp em ạ.

Tư vấn bồi thường thiệt hại khi xảy ra tai nạn giao thông ?

 Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.1940

 

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về chuyên mục tư vấn pháp luật của công ty Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin được chia buồn với bạn và gia đình bạn. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Việc điều khiển xe gây tai nạn chết người , người điều khiển xe có thể phải gánh chịu nhiều hậu quả pháp lý bất lợi. Trong đó phải kể đến trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự ( trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng). Trường hợp của bố mẹ bạn, khi qua đường bố bạn đã bật đèn tín hiệu và giảm tốc độ, quan sát cẩn thận, tai nạn xảy ra là do người điều khiển xe máy còn lại không kiểm soát được tốc độ và điều khiển xe trong trạng thái say, không tỉnh táo. Lỗi thuộc về người điều khiển xe máy đó.

Người đó đã gây ra thiệt hại về sức khỏe cho mẹ bạnVấn đề bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm trước hết do các bên thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường và phương thức bồi thường. Nếu các bên không thể tự thỏa thuận được thì tòa án sẽ giải quyết theo quy định pháp luật.  Việc bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại Điều 609 Bộ luật dân sự năm 2005. Cụ thể hơn, tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 8/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì việc bồi thường thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm được bồi thường bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sỹ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc lắp chân giả, tay giả, mắt giả, mua xe lăn, xe đẩy, nạng chống và khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

-  Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

-  Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khoẻ bị xâm phạm: Tối đa không quá 30 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường

Hành động của người đó đã xâm hại đến tính mạng của bố bạn: Căn cứ vào điều 610 Bộ luật dân sự 2005 (Bộ luật dân sự năm 2015) hướng dẫn về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng khi tính mạng bị xâm hại như sau:

"Điều 610. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm

1. Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết;

b) Chi phí hợp lý cho việc mai táng;

c) Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

2. Người xâm phạm tính mạng của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định"

Hiện nay luật không quy định mức cấp dưỡng cụ thể là bao nhiêu nhưng người gây thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng cho những người phụ thuộc cho những người con chưa đủ 18 tuổi đến khi họ đủ 18 tuổi, bố mẹ của người chết đến khi họ chết nếu người chết này trước khi chết họ đang có nghĩa vụ cấp dưỡng. 

Bên cạnh đó, bồi thường các chị phí cho việc mai táng ở đây được tính bao gồm :  các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hỏa táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ... Cái này sẽ do người nhà chứng minh và yêu cầu bồi thường.

Ngoài ra thân nhân của người chết sẽ được yêu cầu bù đắp một khoản tổn thất một tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì sẽ bồi thường một mức tối đa không quá  60 tháng lương tối thiểu do nhà nước quy định. 

Ngoài việc phải bồi thường thiệt hại cho gia đình bạn, người đó còn có thể chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi của mình:

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định định tại Điều 202 Bộ luật hình sự 1999 ( sửa đổi bổ sung 2009)bộ luật hình sự năm 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017).

“1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

 2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b)  Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;”

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

Theo Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao  Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự thì: 

“4. Về các tình tiết "gây thiệt hại nghiêm trọng", "gây hậu quả rất nghiêm trọng", "gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng" quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự được quy định như sau:

4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự:

a. Làm chết một người;

b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;

c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 31%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 41% đến 100%;

d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một người với tỷ lệ thương tật từ 21% đến 30% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

đ. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người, với tỷ lệ thương tật của mỗi người dưới 21%, nhưng tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 30% đến 40% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ ba mươi triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng;

e. Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”

Người đó đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ(đi quá tốc độ cho phép, điều khiển xe khi say rượu) xâm hại đến tính mạng của người bị tai nạn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe người bị tai nạn. Như vậy, đã đủ dấu hiệu cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo Điều 202 BLHS. Trường hợp này, các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ tiến hành điều tra, khởi tố vụ án để xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Để được bồi thưởng và đảm bảo các quyền lợi chính đáng của bạn và gia đình, bạn cần trình báo rõ ràng với cơ quan công an để cơ quan công an điều tra, thu thập chứng cứ và xử lý vụ việc theo quy định của pháp luật.

>> Xem ngay:  Xin hỏi về mức bồi thường trong tai nạn giao thông ?

5. Giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông?

Thưa Luật sư, tôi xin hỏi về việc giải quyết vụ tai nạn giao thông của anh trai chồng tôi (sau đây, tôi gọi là anh tôi). Anh tôi khẳng định: Tại ngã tư - nơi xảy ra tai nạn, hướng anh tôi đang lưu thông là đèn xanh, anh đi với tốc độ khá chậm, khoảng 20 - 25km/h. Anh tôi đi xe máy. Thời điểm đó, ở hướng đường còn lại là đèn đỏ, có một chị lái xe ô tô đã vượt đèn đỏ và không có dấu hiệu giảm tốc độ khi đi qua ngã tư này. Anh tôi phát hiện đã phanh gấp nhưng vẫn bị đâm vào giữa xe của chị ấy. Vụ tai nạn khiến anh tôi bị gãy chân phải, gãy cả hai ống xương, phải phẫu thuật gắp xương và nẹp đinh cố định xương. Bác sĩ nhận định vết thương của anh tôi cần 6 - 7 tháng mới có thể hồi phục. Xin hỏi luật sư, trường hợp vụ tai nạn của anh tôi sẽ được xử lí theo pháp luật như thế nào? Anh tôi có thể yêu cầu chị lái ô tô bồi thường chi phí điều trị và tổn thất thu nhập trong thời gian dưỡng thương không? Nếu có thì tối đa là bao nhiêu ạ?
Rất mong sớm nhận được hồi âm của Luật sư! Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại tai nạn giao thông?

Hiện trường một vụ tai nạn giao thông đang được CSGT xử lý - Ảnh minh họa

Trả lời:

 

Thứ nhất, Người gây tai nạn bị xử lý như thế nào:

Căn cứ vào Điều 202 Bộ luật hình sự 1999  quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Điều này quy định như sau:

“1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe và tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội  thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b)  Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;”

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; 

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn  giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.”

Như vậy, theo như thông tin mà bạn đưa ra nếu sau khi xem xét, thu thập chứng cứ nếu Cơ quan điều tra xét thấy có dấu hiệu của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe của mẹ bạn thì cơ quan điều tra sẽ tiến hành khởi tố vụ án để truy cứu trách nhiệm hình sự người đã gây ra tại nạn cho anh của bạn theo đúng quy định của pháp luật.

Do đó, người gây ra tai nạn cho anh bạn nếu có đủ chứng cứ chứng minh người đó vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thìngười đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

 Tuy nhiên, không dừng lại ở đó, theo như thông tin bạn đưa ra thì anh bạn phải phẫu thuật chân còn cần xem xét cả về vấn đề bồi thường thiệt hại trong dân sự. Theo Điều 604 Bộ luật dân sự 2005  quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại như sau:

"1. Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thoả thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.

3. Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Toà án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường."

Theo đó, người gây tai nạn cho anh bạn sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì vấn đề của bạn thuộc trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo quy định tại mục 1 nghị quyết 03/2006/NQ - HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì trách nhiệm bổi thường thiệt hại phát sinh khi đủ 4 yếu tố: phải có thiệt hại xảy ra (thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần); phải có hành vi trái pháp luật; phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra; phải có lỗi cố ý hoặc vô ý của người gây thiệt hại.

Trong trường hợp của bạn: người gây tai nạn vượt đèn đỏ - đây là hành vi trái pháp luật và đã gây thiệt hại cho anh bạn. Chắc chắn một điều rằng họ có ý thức được đó là hành vi trái pháp luật và sẽ rất nguy hiểm nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi đó. Do vậy, hành vi của người gây thiệt hại đã đủ để phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với anh của bạn.

Thứ hai, mức bồi thường là bao nhiêu

Theo quy định tại Điều 605 BLDS 2005 và Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về nguyên tắc bồi thường thiệt hại thì thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Việc bồi thường trước hết phải do các bên tự thỏa thuận về mức bồi thường và phương thức bồi thường. Nếu các bên không thể tự thỏa thuận được thì tòa án sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp của bạn là người kia đã gây ra thiệt hại về sức khỏe cho anh bạn. Căn cứ để tính mức bồi thường thiệt hại về sức khỏe  đã được quy định rõ tại mục II NQ 03/2006 NĐ-HĐTP  và Điều 609 BLDS năm 2005.Theo đó, với trường hợp của bạn, anh bạn được bồi thường những khoản như sau: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của anh bạn, đó có thể là: tiền thuốc, tiền mua các thiết bị y tế, tiền thuê phương tiện đi lại phục vụ cho việc chữa bệnh. Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của bạn trong thời gian bị tai nạn không đi làm được. Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc anh bạn trong thời gian điều trị.
Ngoài ra, bạn còn được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm. Mức độ tổn thất về tinh thần của người bị thiệt hại được xác định là mức độ tổn thất về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín... . Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần còn căn cứ vào sự ảnh hưởng đến nghề nghiệp, thẩm mỹ, giao tiếp xã hội, sinh hoạt gia đình bạn và bạn. Mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần  do các bên thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần  được căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, nhưng tối đa không quá 30 thág lương tối thiểu do Nhà nước quy đinh tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Về thời gian bồi thường thiệt hại thì luật chỉ quy định theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ và kịp thời, không xác định một mốc thời gian cụ thể nên bạn sẽ nhận được khoản bồi thường sau khi hoàn tất thủ tục. Pháp luật không có quy định cụ thể về thời gian được hưởng bồi thường mà chỉ có quy định thời hạn được hưởng bồi thường. Để thiệt hại có thể được bồi thường kịp thời, Tòa án sẽ giải quyết nhanh chóng yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại trong thời hạn luật định. Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự.

>> Xem ngay: Bị tai nạn giao thông do lỗi của bên gây tai nạn ? Yêu cầu Viện Kiểm Sát, Công an khởi tố vụ án như thế nào ?

6. Tư vấn chế độ bảo hiểm y tế cho người bị tai nạn giao thông ?

Kính chào luật sư của công ty Luật Minh Khuê. Xin luật sư tư vấn cho tôi vấn đề như sau: Chú ruột tôi mới bị tai nạn giao thông và chú đang hôn mê nằm ở bệnh viện Việt Đức được 1 tuần chưa tỉnh. Tôi có đi làm chế độ bảo hiểm cho chú, chú tôi là cán bộ xã đã đóng bảo hiểm 10 năm rồi. 

Tôi có đọc luật bảo hiểm y tế sửa đổi (luật 46/2015/QH13) có điểm c khoản 1 điều 22 tôi băn khoăn không biết chú tôi có được hưởng BHYT 100% không? Tôi mong sớm nhận được sự tư vấn của các luật sư để tôi có thể làm chế độ cho chú tôi hưởng chế độ tốt nhất. Trân trọng cảm ơn!

Người gửi: T.T

Tư vấn chế độ bảo hiểm y tế cho người bị tai nạn giao thông ?

 Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sự: 1900.1940.

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Đầu tiên, chú của bạn là cán bộ xã nên theo quy định tại  Luật bảo hiểm y tế sửa đổi bổ sung 2014 thì thuộc đối tượng được tham gia bảo hiểm y tế:

"Điều 12. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế

1. Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, bao gồm:

a) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là người lao động);

b) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật."

Về việc khám chữa bệnh bảo hiểm y tế, chú của bạn thuộc trường hợp được quy định tại khoản 2 điều 28 Luật trên:

"Điều 28. Thủ tục khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế

1. Người tham gia bảo hiểm y tế khi đến khám bệnh, chữa bệnh phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế có ảnh; trường hợp thẻ bảo hiểm y tế chưa có ảnh thì phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế cùng với giấy tờ chứng minh về nhân thân của người đó; đối với trẻ em dưới 6 tuổi chỉ phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế.

2. Trường hợp cấp cứu, người tham gia bảo hiểm y tế được khám bệnh, chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nào và phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế cùng với giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này trước khi ra viện.

3. Trường hợp chuyển tuyến điều trị, người tham gia bảo hiểm y tế phải có hồ sơ chuyển viện của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

4. Trường hợp khám lại theo yêu cầu điều trị, người tham gia bảo hiểm y tế phải có giấy hẹn khám lại của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh."

Căn cứ vào các điều kiện nêu trên, chú của bạn có thể được hưởng mức bảo hiểm y tế thuộc trường hợp quy định tại điểm c hoặc điểm đ dưới đây:

"Điều 22. Mức hưởng bảo hiểm y tế

1. Người tham gia bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại các điều 26, 27 và 28 của Luật này thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng với mức hưởng như sau:

...

c) 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến;

...

đ) 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các đối tượng khác."

Vì chú của bạn là cán bộ xã, đã tham gia bảo hiểm y tế được 10 năm nên có thể được hưởng mức bảo hiểm 100% theo điểm c nêu trên nếu thỏa mãn hai điều kiện sau: một là trong 10 năm đóng bảo hiểm này có ít nhất từ 5 năm đóng liên tục trở lên, không bị ngắt quãng; hai là trong năm nay, tức năm chú bạn xảy ra tai nạn, chú bạn cũng đã đồng thời chi trả chi phí khám chữa bệnh (ở đúng tuyến) khác lớn hơn 6 tháng lương cơ sở (mức lương cơ sở hiện nay được quy định tại khoản 2 điều 3 Nghị định 66/2013/NĐ-CP của Chính phủ là 1.150.000 đồng/tháng).

Nếu không thỏa mãn cả hai điều kiện nêu trên, chú của bạn chỉ có thể hưởng mức bảo hiểm 80% dựa theo điểm đ đã nêu.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê