Số tiền này Ông đã lấy không 3 năm liên tục trở lại đây. Nhưng trên thực tế người dân chúng tôi không được tập huấn một buổi nào cả. 

- Ông A là lãnh đạo phụ trách phần kinh tế của xã nhưng đã tự ý đi 1 mình đi mua sắm bàn ghế, loa đài, máy vi tính của UBND xã không tuân theo quy chế mua sắm tài sản công, không có hợp đồng kinh tế, không công khai minh bạch mà khi đó UBND huyện đã cấm mua tài sản công, số tiền Ông dùng chi cho việc này lên đến 96.000.000đ

- Số tiền quỹ do Nhân dân trong xã đóng góp là hơn 10.000.000đ không nộp vào Nhà nước mà chi làm kênh mương bê tông cho 1 xóm cho sai nguyên tắc. Trong khi đó, máng bê tông không có Hồ sơ thiết kế dự toán và không được cấp có thẩm quyền cho phép thực hiên.

- Vừa qua Phó phòng tài chính Huyện đã kiểm tra và kết luận xã Chi âm dự toán ngân sách là 161.000.000đ, việc chi âm nào có liên quan đến ông A xã đứng chi.

Tất cả các sự việc trên là có thật nhưng tôi không có bằng chứng cụ thể bằng văn bản mà chỉ có một tờ rơi nội dung bao gồm các khoản tiền nói trên và cuộc ghi âm nói chuyện xác minh sự thật với cán bộ Tư pháp xã phụ trách bên phát những số tiền trên cho ông A. Bên cạnh những vấn đề trên, về mặt phẩm chất, đạo đức ông A cũng không xứng đáng là người lãnh đạo bởi ông A luôn hống hách, nạt người dân, uống rượu vào ăn nói tục tĩu, dọa nạt đánh người dân (có xảy ra trên thực tế).

+ Vậy với chứng cứ là cuộn ghi âm trên, nay tôi làm đơn tố cáo đến Cơ quan công an để đề nghị Cơ quan Công an xem xét giải quyết có được không? hay ông A là người do bên Đảng ủy quản lý nên tôi phải gửi sang bên Đảng ủy huyện; UBND hay Chủ tịch; Bí thư huyện ủy?

+ Việc làm của ông A có thể bị truy cứu TNHS về tội tham ô tài sản hay không?

+ Những việc trên là có thật nhưng họ làm hồ sơ giả để trốn tránh trách nhiệm và không bị xử lý. Khi đó, ông A có thể kiện lại tôi về tội vu khống, nói xấu cán bộ hay không?

Tôi kính mong nhận được sự tư vấn giúp đỡ của Luật sư! Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.L

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn tố cáo người có chức có quyền tội tham ô tài sản ? 

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê. Chúng tôi xin giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

1. Căn cứ pháp lý:            

Luật tố cáo 2011.

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

2. Nội dung tư vấn :

2.1. Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận đơn tố cáo.

Căn cứ theo Điều 13 luật tố cáo 2011.

"Điều 13. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong cơ quan hành chính nhà nước

1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện và cán bộ, công chức do mình bổ nhiệm, quản lý trực tiếp."

Với trường hợp trên là ông  A là Giám đốc Trung tâm học tập cộng đồng đồng thời là lãnh đạo phụ trách phần kinh tế của xã, theo khoản 1 Điều 13 luật tố cáo thì chủ tịch ủy ban nhân dân xã sẽ có thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiệm nhiệm vụ, công vụ của cán bộ công chức do mình quản lý trực tiếp, như vậy bạn có thể gửi đơn tố cáo trực tiếp đến chủ tịch ủy ban nhân dân xã đồng thời gửi kèm cả chứng cứ cho hành vi vi phạm pháp luật này. Đồng thời căn cứ theo khoản 1 Điều 278 Luật hình sự thì hành vi lập danh sách khống để chiếm đoạt số tiền bồi dưỡng tập huấn cho nông dân của ông A với giá trị tài sản 3 năm liên tiếp là 75 triệu đồng đã cấu thành tội tham ô tài sản, với tội phạm này bạn cũng hoàn toàn có quyền viết đơn trình báo tố giác tội phạm đến cơ quan công an là cơ quan có nhiệm vụ điều tra các hành vi vi phạm pháp luật. 

"Điều 278. Tội tham ô tài sản

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng  nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

A) Gây hậu quả nghiêm trọng;

B) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

C) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục A Chương này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm."

2.2. Việc làm của ông A có thể bị truy cứu TNHS về tội tham ô tài sản hay không?

Như đã phân tích ở trên việc làm của ông A đã cấu thành tội tham ô tài sản theo đó sau khi thụ lý vụ án và đưa ra xét xử ông A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo đúng quy định của pháp luật.

2.3. Những việc trên là có thật nhưng họ làm hồ sơ giả để trốn tránh trách nhiệm và không bị xử lý khi đó ông A có thể kiện lại tôi về tội vu khống, nói xấu cán bộ hay không?

Căn cứ theo Điều 8 luật tố cáo:

"Điều 8. Những hành vi bị nghiêm cấm

3. Tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo."

Theo đó khi tiến hành tố cáo danh tính của bạn sẽ không được công khai và tiết lộ nên ông A không thể kiện ngược lại bạn được nếu tin tố cáo bạn đưa ra là đúng sự thật chứng cứ chứng minh hoàn toàn chính xác, ngược lại nếu có chứng cứ chứng minh các chứng cứ bạn đưa ra là giả mạo và cố tình tạo ra các bằng chứng này với mục đích bôi xấu danh dự nhằm vu khống ông A theo Điều 122 Luật hình sự thì ông A có thể tố cáo bạn về tội này. 

"Điều 122 Tội vu khống 

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê