1. Tư vấn tội cố ý gây thương tích khi dùng hung khí?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Cho em hỏi em của em có hành vi cố ý gây thương tích có dùng hung khí nguy hiểm. Nguyên do là em của em cùng hai người bạn buổi chiều có gây gỗ với chú gần nhà đang làm bảo vệ tại công ty sau đó về nhà lấy hung khí lên chém chú đó may 6 mũi (hiện giờ vẫn chưa giám định vết thương).

Trong thời gian đi may đó, gia đình em có lên xuống nhà hỏi thăm và đền bù tiền thuốc men. Nhưng chú đó vẫn làm đơn tố cáo và em của em đã bị công an bắt tạm giam về tội cố ý gây thương tích Điều 134 của Bộ luật hình sự. Rất mong luật sư giúp em có thông tin để giúp em mình giảm nhẹ hình phạt. Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Đỗ Thu Cúc

Tư vấn tội cố ý gây thương tích khi dùng hung khí ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để giúp em của bạn có thể giảm nhẹ hình phạt, bạn cần căn cứ vào những quy định sau đây:

Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

"Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

..."

Căn cứ khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bao gồm những tình tiết sau:

- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội;

- Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra;

- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

- Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức;

- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra;

- Phạm tội do lạc hậu;

- Người phạm tội là phụ nữ có thai;

- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên;

- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;

- Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

- Người phạm tội tự thú;

- Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

- Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án;

- Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác;

- Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.

Theo đó, nếu như em của bạn có ít nhất là 2 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 Điều 51 trên thì căn cứ Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

"Điều 54. Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng

1. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật này.

2. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng nhưng không bắt buộc phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật đối với người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể.

3. Trong trường hợp có đủ các điều kiện quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều này nhưng điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất, thì Tòa án có thể quyết định chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án."

Do vậy, căn cứ vào những quy định này mà bạn có thể biết được rằng em bạn có được giảm nhẹ hình phạt hay không?

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

2. Điều kiện khởi kiện tội cố ý gây thương tích và các bước khởi kiện?

Kính gửi luật sư! Cháu có một vài câu hỏi về tội cố ý gây thương tích như sau ạ:

Bố cháu năm nay 50 tuổi, cách đây 2 tuần bố cháu có xảy ra xích mích với chú (chồng cô ruột cháu) về vấn đề đất đai. Hai bên có lời qua tiếng lại một lúc xong rồi chú kia xông vào đánh bố cháu đến chảy máu ở miệng, 2 cái răng chưa gãy hẳn nhưng bị lung lay và đau lưng vì bố cháu bị xô ngã vào thành giường. Trước đó, chú ấy có đe dọa đánh bố cháu nhiều lần. Trong khi đó, vào tháng 7/2015, bố cháu bị tai nạn và tụ máu 2 bên não, có đi phẫu thuật và hiện tại sức khỏe đã tạm ổn định. Tuy nhiên, sức khỏe bố cháu vẫn còn rất yếu.

Vì cháu đi làm xa nên chưa thể về nhà để đưa bố cháu đi bệnh viện khám sức khỏe để kiểm tra tỷ lệ thương tật được nhưng hành vi đánh người của chú ấy có 2 người khác đứng ra làm nhân chứng. Như vậy, bố cháu hoàn toàn có quyền khởi kiện chứ ạ?

Nếu cháu muốn làm đơn tố cáo, thì sẽ phải bắt đầu từ đâu và chuẩn bị những tài liệu gì ạ? Luật sư có thể cho cháu xin mẫu đơn khởi kiện được không ạ? Cháu xin chân thành cảm ơn!

Điều kiện khởi kiện tội cố ý gây thương tích và các bước khởi kiện ?

Luật sư tư vấn hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời.

Căn cứ Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, theo đó, có thể thấy xác định tỷ lệ thương tật chính là căn cứ để truy cứu trách nhiệm đối với tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác. Để có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi của chú bạn, bố bạn cần xác định tỷ lệ thương tật càng sớm càng tốt.

Sau khi nhận được đơn tố giác hoặc kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh nguồn tin trong đó có giám định pháp y. Chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có thể xác định tỷ lệ thương tật làm căn cứ khởi tố về tội cố ý gây thương tích. Do đó, bố bạn cần tuân thủ theo đúng những quy định này. Bên cạnh đó, bố bạn đã từng bị tai nạn đã tiến hành phẫu thuật nhưng sức khỏe rất yếu. Đây có thể là tình tiết để dẫn đến hành vi của chú bạn phạm vào Điểm e Khoản 1 Điều 134 bộ luật hình sự. Để bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình bố bạn cần chứng minh được những điểm sau: chú bạn có lời lẽ đe dọa bố bạn nhiều lần, chú là người hành hung bố bạn trước, bố bạn đang trong tình trạng không thể tự về vì ốm đau.

Đối với trường hợp của bố bạn sẽ khởi tố vụ án theo Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, bố bạn có thể tố giác bằng miệng tại các cơ quan tổ chức trên hoặc tố giác bằng đơn.

Khi nhận được tin tố giác tội phạm, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành những thủ tục tố tụng tiếp theo để xác minh tội phạm và giải quyết vụ việc. Những tài liệu mà bố bạn cần chuẩn bị, đó là những chứng cứ để chứng minh cho hành vi phạm pháp của chú bạn: những lời đe dọa, hành vi hành dung của chú bạn, tình trạng sức khỏa của bố bạn khi bị hành hung và sau khi hành hung.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Tội cố ý gây thương tích cho người khác có thể được hưởng án treo không?

3. Hỏi đáp thắc mắc về vụ án cố ý gây thương tích?

Chào luật sư! Tôi có một số vấn đề nhờ luật sư tư vấn giúp về vụ án hình sự cố ý gây thương tích. Tôi bị tấn công bất ngờ, đối tượng dùng bình xịt hơi cay xịt thẳng vào mắt.

Và cơ quan điều tra hình sự của quận đã đưa tôi đi giám định, kết quả tổn thương do thương tích gây ra là 14%. Vậy bên gây thương tích sẽ bị xử phạt theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự? Và khi công an đưa tôi đi giám định rồi thì theo yêu cầu bên gây thương tích đề nghị đi giám định lại, tôi có bắt buộc phải đi giám định lại hay không? Và khi tôi không đi giám định lại cơ quan điều tra có quyền tạm đình chỉ điều tra vụ án hay không. Khi vụ án điều tra đã kéo dài 07 tháng vẫn chưa khởi tố? Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hỏi đáp thắc mắc về vụ án cố ý gây thương tích ?

Trả lời:

Hành vi cố ý gây thương tích của người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, đã được phân tích chi tiết ở trên, bạn có thể tham khảo.

Cũngtheo 211 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có quy định về giám định lại:

"1. Việc giám định lại được thực hiện khi có nghi ngờ kết luận giám định lần đầu không chính xác. Việc giám định lại phải do người giám định khác thực hiện.

2. Cơ quan trưng cầu giám định tự mình hoặc theo đề nghị của người tham gia tố tụng quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp người trưng cầu giám định không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho người đề nghị giám định bằng văn bản và nêu rõ lý do.

3. Trường hợp có sự khác nhau giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một nội dung giám định thì việc giám định lại lần thứ hai do người trưng cầu giám định quyết định. Việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện theo quy định của Luật giám định tư pháp."

Như vậy, nếu cơ quan công an có yêu cầu bạn giám định lại thì phải có một trong các căn cứ nêu trên, còn nếu không có căn cứ thì bạn hoàn toàn có quyền từ chối.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Tội cố ý gây thương tích theo bộ luật hình sự năm 2015 thì mức phạt thế nào?

4. Quy định về bãi nại cho người bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích?

Kính thưa luật sư! Tôi có một vướng mắc thực tế muốn được quý ban biên tập giải đáp, rất mong nhận được sự giúp đỡ, nội dung vụ việc như sau: Ngày 11/01/2019, Bùi Anh T, sinh năm 1992, dùng mã tấu chém gây thương tích cho anh Nguyễn T. S. Cơ quan điều tra tiến hành giám định tỷ lệ thương tật tạm thời đối với anh S. Kết quả, anh S bị tổn thương 27% sức khỏe tạm thời. Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với T. Quá trình điều tra gia đình T đã bồi thường cho S và tác động để S viết bãi nại. Đồng thời, S bỏ đi khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra không thể trưng cầu giám định lại. Vậy, có thể tiếp tục xử lý đối với T không? Kết quả giám định thương tật tạm thời có thể sử dụng để kết luận điều tra không? Văn bản quy định? Việc bắt tạm giam T như vậy có vi phạm tố tụng không?

Rất mong sớm nhận được hồi âm!

Quy định về bãi nại cho người bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích?

Luật sư tư vấn luật Hình sự về hành vi cố ý gây thương tích, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về Khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại:

"Điều 155. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức."

Theo đó: Đơn bãi nại thực chất là rút yêu cầu khởi kiện của người bị hại. Theo thông tin bạn cung cấp, anh T dùng mã tấu chém bị thương anh S, mã tấu là hung khí nguy hiểm, kết quả giám định là 27% thuộc khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

"2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này."

Như vậy, hành vi của T đủ điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 134 nêu trên, không thuộc trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại. Chính vì vậy, khi có đơn bãi nại của người bị hại là S thì T vẫn bị cơ quan điều tra khởi tố vụ án bình thường.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Cố ý gây thương tích 13% có bắt buộc phải ngồi tù?

5. Câu hỏi pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Do có mâu thuẫn với Linh, Long (15 tuổi 6 tháng) đã dùng dao nhọn đâm Linh nhiều nhát. Kết quả pháp y giám định Long đã gây thương tích cho Linh là 63%. Hỏi:

a. Loại tội phạm mà Long đã thực hiện?

b. Long có phải chịu TNHS hay không và hình phạt cao nhất mà Long phải chịu là như thế nào?

c. Giả sử khi thực hiện hành vi trong tình huống trên, Long đang mắc bệnh tâm thần thì Long có phải chịu TNHS hay không? Tại sao?

d. Nếu Long là người nước ngoài thì Long vấn đề TNHS được giải quyết như thế nào? Tại sao?

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.C

Câu hỏi pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Căn cứ Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 tại Điều 12 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và Điều 134 quy định về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì theo thông tin bạn cung cấp thì Linh bị thương tích là 63%. Trường hợp này thuộc điểm đ Khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự. Loại tội phạm quy định tại Khoản này là tội rất nghiêm trọng, lỗi cố ý. Do đó, Long 15 tuổi 6 tháng phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình.

Vấn đề a:

Hành vi của Long cấu thành Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo quy định tại Khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự với khung hình phạt cao nhất là 14 năm tù. Loại tội phạm mà Long thực hiện là tội rất nghiêm trọng.

Vấn đề b:

Long phải chịu trách nhiệm hình sự theo những phân tích nêu trên, mức hình phạt cao nhất là đến 14 năm tù (Khoản 4 Điều 134).

Vấn đề c:

Nếu khi thực hiện hành vi, Long mắc bệnh tâm thần thì theo quy định tại Điều 21 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

"Điều 21. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự."

Như vậy, gồm hai trường hợp như sau:

- Long mắc bệnh tâm thần dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

- Long mắc bệnh tâm thần nhưng chưa đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì Long phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật; vì khi hành động, Long vẫn nhận thức được hành vi của mình, vẫn có lỗi đối với việc thực hiện hành vi.

Vấn đề d:

Nếu Long là người nước ngoài thì theo Khoản 2 Điều 5 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

"2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao."

Do đó, nếu Long là người được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Nếu Long không thuộc đối tượng trên thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Long được thực hiện như đối với mọi tội phạm được thực hiện trong lãnh thổ Việt Nam.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Tư vấn giải quyết vụ án cố ý gây thương tích?

6. Bị cả gia đình nhà chồng đánh đập, muốn khởi kiện họ về hành vi cố ý gây thương tích thì phải làm như thế nào?

Thưa luật sư, tôi đã lấy chồng được 01 năm nay và đã có con 8 th​áng tuổi. Tôi với chồng tôi có xảy ra xích mích chuyện vợ chồng, anh ta đã tát tôi và đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà. Trong khi đó bố chồng tôi cũng chửi mắng tôi, khi ông ấy không biết chuyện gì cả. Nhưng sự việc nghiêm trọng hơn vào ngày mùng 23/01 vừa qua, vào lúc 8h sáng, vợ chồng tôi có to tiếng trong phòng.

Thì bố chồng tôi đã vào phòng tôi, tát tôi mấy cái sau đó đến người em chồng tôi cũng vào đánh tôi, trong khi tôi không có mâu thuẫn với họ. Sau đó, được mẹ chồng tôi can ngăn nhưng họ vẫn vào đạp tôi mấy cái nữa vì họ cho rằng tôi xúi giúc em dâu bỏ chồng, trong khi đó không phải là sự thật. Họ làm cho cuộc sống tôi quá nhiều đâu khổ, vậy tôi muốn hỏi quý văn phòng tôi kiện họ thì phải làm sao?

Người gửi: Trần Thị H

Bị cả gia đình nhà chồng đánh đập, tôi muốn khởi kiện họ về hành vi cố ý gây thương tích thì phải làm như thế nào?

Trả lời:

Theo như những thông tin mà bạn cung cấp thì bạn đã kết hôn được 01 năm và có một con 8 tháng tuổi. Bạn và chồng hay có xích mích, chồng bạn đã có hành vi đánh bạn. Ngòai ra vào ngày 23/01, khi có xích mích xảy ra thì cả bố chồng và em chồng của bạn đều tham gia đánh đập bạn. Tuy chưa biết việc chồng và gia đình chồng đánh đập bạn nhiều lần chưa, có ai làm chứng không nhưng nếu đó là hành vi thường xuyên thì đây rất có thể là hành vi bạo lực gia đình. Theo quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì hành vi bạo lực gia đình là hành vi bị nghiêm cấm.

Đặc biệt là tại Điều 5 của Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007 cũng có quy định, khi mà có hành vi bao lực gia đình thì trong trường hợp này, người phụ nữ có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng của mình cũng như yêu cầu các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc…Cụ thể:

- Người bị bạo hành cần đến trình báo đến Ủy ban nhân dân xã để yêu cầu người chồng chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình; Cấm người chồng có hành vi bạo lực đến gần vợ…

- Người bị bạo hành có thể gửi đơn đến Tòa án cấp huyện yêu cầu áp dụng biện pháp cấm người chồng tiếp xúc trong thời gian tối đa 04 tháng. Trong trường hợp này, người vợ phải có các bằng chứng chứng minh hành vi bạo lực gây tổn hại đến sức khỏe và đe dọa đến tính mạng.

- Đến các cơ sở khám chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình… để được tư vấn về chăm sóc sức khỏe, ứng xử trong gia đình, các vấn đề về pháp lý và tâm lý để giải quyết tình trạng bạo lực gia đình…

- Đến khám và điều trị tại các cơ sở khám, chữa bệnh; nếu có bảo hiểm y tế, các chi phí khám và điều trị sẽ do Quỹ bảo hiểm y tế chi trả.

- Tố cáo với cơ quan công về hành vi của gia đình chồng với hành vi cố ý gây thương tích.

Về các hình thức xử phạt đối với hành vi bạo hành của gia đình chồng bạn:

Hành vi của chồng, bố chồng, em chồng bạn là những hành vi bao lực, dù đó là ít hay nhiều thì cũng là trái quy định của pháp luật và đều phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định. Theo quy định tại Điều 49 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP thì đối với hành vi trên thì chồng, bố chồng, em chồng bạn đánh đập gây thương tích cho bạn thì có thể bị phạt từ 1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng. Bên cạnh đó chồng, bố chồng, em chồng bạn còn bị buộc phải xin lỗi công khai khi bạn có yêu cầu.

Nếu hành vi đó mà gây thương tích cho bạn từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng dùng hung khí nguy hiểm; dùng axit; gây cố tật nhẹ cho vợ hoặc phạm tội 02 lần trở lên thì sẽ bị xử lý về Tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 với mức phạt là cải tạo không không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…

Như vậy, bạn có nhiều cách thức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phá của mình. Và cách thức trên chỉ ở phương diện pháp lý bạn có thể dùng để tham khảo, Trong thực tế cách xủ lý đối với những trường hợp trên thì còn tùy thuộc vào tính chất, mức độ, hành vi nữa.

Trường hợp bạn muốn ly hồ thì có thể đọc các quy định về ly hôn hoặc gọi điện thoại cho chúng tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê