1. Tư vấn tội cố ý gây thương tích khi dùng hung khí ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Em có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Cho em hỏi em của em có hành vi cố ý gây thương tích có dùng hung khí nguy hiểm. Nguyên do là em của em cùng 2 người bạn buổi chiều có gây gỗ với chú gần nhà đang làm bảo vệ tại công ty sau đó về nhà lấy hung khí lên chém chú đó may 6 mũi ( hiện giờ vẫn chưa giám định vết thương).

Trong thời gian đi may đó gia đình em có lên xuống nhà hỏi thăm và đền bù tiền thuốc men. Nhưng chú đó vẫn làm đơn tố cáo và em của em đã bị công an bắt tạm giam về tội cố ý gây thương tích điều 104 của Bộ luật hình sự. Rất mong luật sư giúp em có thông tin để giúp em mình giảm nhẹ hình phạt.

Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty Luật Minh Khuê.

Em rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này.

Kính thư.

Người gửi: Đỗ Thu Cúc

Tư vấn tội cố ý gây thương tích khi dùng hung khí ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Để giúp em của bạn có thể giảm nhẹ hình phạt, bạn cần căn cứ vào những quy định sau đây:

Theo quy định tại Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009:

“Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người, hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung than”.

Căn cứ khoản 1 điều 46 BLHS sửa đổi, bổ sung 2009:

“Điều 46. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

1. Các tình tiết sau đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

a) Người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

b) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả;

c) Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

d) Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết;

đ) Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại hoặc người khác gây ra;

e) Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra;

g) Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn;

h) Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

i) Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức;

k) Phạm tội do lạc hậu;

l) Người phạm tội là phụ nữ có thai;

m) Người phạm tội là người già;

n) Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình;

o) Người phạm tội tự thú;

p) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;

q) Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm;

r) Người phạm tội đã lập công chuộc tội;

s) Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác”.

Theo đó, nếu như em của bạn có ít nhất là 2 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 điều 46 trên thì căn cứ điều 47 BLHS:

"Điều 47. Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật

Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định mộ t hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án".

Do vậy, căn cứ vào những quy định này mà bạn có thể biết được rằng em bạn có được giảm nhẹ hình phạt hay không?

Ngoài ra, theo như dữ kiện bạn cung cấp, em của bạn bị khởi tố về tội “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” theo điều 104 BLHS sửa đổi bổ sung 2009. Tuy nhiên, bạn không nói rõ em bạn bị truy cứu ở khoản nào trong điều 104, hơn nữa em bạn gây thương tích cho phía người bị thiệt hại nhưng người bị thiệt hại chưa xác định được % thương tật trên cơ thể. Do vậy, nếu như em bạn bị tuyên án phạt theo quy định tại khoản 1 điều 104 BLHS. Thì em bạn có thể viết đơn gửi lên tòa án xin được hưởng án treo (điều 60 BLHS) nếu như em bạn đủ các điều kiện dưới đây:

Căn cứ khoản 1 điều 60 BLHS sửa đổi, bổ sung 2009:

“Điều 60. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”.

Căn cứ điều 2 nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng điều 60 của Bộ luật hình sự về án treo.

“Điều 2. Việc xem xét cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo

1. Chỉ xem xét cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bị xử phạt tù không quá 3 năm về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng theo phân loại tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật hình sự;

b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật.

Trường hợp người phạm tội có án tích nhưng đã được xóa án tích, được đương nhiên xóa án tích thì coi là chưa bị kết án; đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật thì được coi là chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, nhưng không phải là có nhân thân tốt. Việc cho hưởng án treo đối với những trường hợp này phải hết sức chặt chẽ. Chỉ có thể xem xét cho hưởng án treo khi thuộc một trong các trường hợp sau:

b1) Người bị kết án từ trên 3 năm tù đến 15 năm tù về tội do cố ý (kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều tội hoặc nhiều bản án) mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

b2) Người bị kết án đến 3 năm tù về tội do cố ý mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

b3) Người bị kết án về các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

b4) Người bị kết án về các tội do vô ý mà đã được xóa án tích;

b5) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

b6) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc một lần và có nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

b7) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;

b8) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;

b9) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật về hành vi có cùng tính chất với hành vi phạm tội lần này mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

b10) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 6 tháng;

b11) Người đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính;

c) Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng;

d) Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; nếu có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự là những tình tiết được hướng dẫn tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999”;

đ) Có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng”.

Dựa vào những điều kiện trên, khi có đơn yêu hưởng án treo, tòa án sẽ xem xét để cho em bạn hưởng án treo hay không?

Ngoài ra, khi em bạn đã bị kết án nhưng chưa chấp hành hình phạt tù, bạn có thể căn cứ vào những điều 57, điều 58, điều 59, điều 61 và điều 62 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009. Để có thể giúp em bạn có thể được hoãn, miễn chấp hành hình phạt,…vv.

Trân trọng cám ơn!

>> Tham khảo dịch vụ pháp lý: Luật sư tư vấn, tranh tụng trong lĩnh vực hình sự;

2. Điều kiện khởi kiện tội cố ý gây thương tích và các bước khởi kiện ?

Kính gửi văn phòng luật sư Minh Khuê! Cháu có một vài câu hỏi về tội cố ý gây thương tích như sau ạ:
*I/ Điều kiện để tố cáo tội cố ý gây thương tích:* Bố cháu năm nay 50 tuổi, cách đây 2 tuần bố cháu có xảy ra xích mích với chú (chồng cô ruột cháu) về vấn đề đất đai. Hai bên có lời qua tiếng lại 1 lúc xong rồi chú kia xông vào đánh bố cháu đến chảy máu ở miệng, 2 cái răng chưa gãy hẳn nhưng bị lung lay và đau lưng vì bố cháu bị xô ngã vào thành giường. Trước đó chú ấy có đe dọa đánh bố cháu nhiều lần. Trong khi đó, vào tháng 7/2015, bố cháu bị tai nạn và tụ máu 2 bên não, có đi phẫu thuật và hiện tại sức khỏe đã tạm ổn định.
Tuy nhiên, sức khỏe bố cháu vẫn còn rất yếu. Theo điều 104, Bộ Luật Hình Sự quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại về sức khỏe của người khác như sau:
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm;...
d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;......" Vì cháu đi làm xa nên chưa thể về nhà để đưa bố cháu đi bệnh viện khám sức khỏe để kiểm tra tỷ lệ thương tật được nhưng hành vi đánh người của chú ấy có 2 người khác đứng ra làm nhân chứng. Như vậy, bố cháu hoàn toàn có quyền khởi kiện chứ ạ? *
II/ Quá trình khởi kiện: * Nếu cháu muốn làm đơn tố cáo, thì sẽ phải bắt đầu từ đâu và chuẩn bị những tài liệu gì ạ? Các chú có thể cho cháu xin mẫu đơn khởi kiện được không ạ?
Cháu xin chân thành cảm ơn!

Điều kiện khởi kiện tội cố ý gây thương tích và các bước khởi kiện ?

Luật sư tư vấn hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời.

Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác như sau:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người, hoặc từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.”

Quá quy định trên có thể thấy xác định tỷ lệ thương tật chính là căn cứ để truy cứu trách nhiệm đối với tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác. Để có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự với hành vi của chú bạn, bố bạn cần xác định tỉ lệ thương tật càng sớm càng tốt. Tuy nhiên để xác định được tỷ lệ thương tật bố bạn cần tuân theo Khoản 2 điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 :

Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng”. Sau khi nhận được đơn tố giác hoặc kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh nguồn tin trong đó có giám định pháp y. Chỉ có cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có thể xác định tỷ lệ thương tật làm căn cứ khởi tố về tội cố ý gây thương tích. Do đó, bố bạn cần tuân thủ theo đúng những quy định này. Bên cạnh đó, bố bạn đã từng bị tai nạn đã tiến hành phẫu thuật nhưng sức khỏe rất yếu. Đây có thể là tình tiết để dẫn đến hành vi của chú bạn phạm vào Điểm d Khoản 1 Điều 104 bộ luật hình sự. Để bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình bố bạn cần chứng minh được những điểm sau: chú bạn có lời lẽ đe dọa bố bạn nhiều lần, chú là người hành hung bố bạn trước, bố bạn đang trong tình trạng không thể tự về vì ốm đau.

Điều 100 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về căn cứ khởi tố vụ án hình sự như sau:

"Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:

1. Tố giác của công dân;

2. Tin báo của cơ quan, tổ chức;

3. Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;

4. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;

5. Người phạm tội tự thú."

Đối với trường hợp của bố bạn sẽ khởi tố vụ án theo Khoản 1 điều này, tố giác tội phạm, theo giải thích tại Thông tư liên tịch số 06/2013/TTLT- BCA- BQP- BTC- BNN&PTNT- VKSNDTC Hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiện nghị khởi tố hướng dẫn thi hành quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thì:

“Tố giác về tội phạm là những thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm do cá nhân có danh tính, địa chỉ rõ ràng cung cấp cho cơ quan, cá nhân có trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết”.

Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định:

"Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản"

Như vậy, bố bạn có thể tố giác bằng miệng tại các cơ quan tổ chức trên hoặc tố giác bằng đơn.

Khi nhận được tin tố giác tội phạm, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành những thủ tục tố tụng tiếp theo để xác minh tội phạm và giải quyết vụ việc. Những tài liệu mà bố bạn cần chuẩn bị, đó là những chứng cứ để chứng minh cho hành vi phạm pháp của chú bạn: những lời đe dọa, hành vi hành dung của chú bạn, tình trạng sức khỏa của bố bạn khi bị hành hung và sau khi hành hung.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Tham khảo nội dung liên quan: Tội cố ý gây thương tích cho người khác có thể được hưởng án treo không ?

3. Hỏi đáp thắc mắc về vụ án cố ý gây thương tích ?

Chào luật sư! Tôi có một số vấn đề nhờ luật sư tư vấn giúp về vụ án hình sự cố ý gây thương tích. Tôi bị tấn công bất ngờ, đối tượng dùng bình xịt hơi cay xịt thẳng vào mắt.

Và cơ quan điều tra hình sự của quận đã đưa tôi đi giám định, kết quả tổn thương do thương tích gây ra là 14%. Vậy bên gây thương tích sẽ bị xử phạt theo điều khoản nào của luật tố tụng hình sự. Và khi công an đưa tôi đi giám định rồi thì theo yêu cầu bên gây thương tích đề nghị đi giám định lại, tôi có bắt buộc phải đi giám định lại hay không. Và khi tôi không đi giám định lại cơ quan điều tra có quyền tạm đình chỉ điều tra vụ án hay không. Khi vụ án điều tra đã kéo dài 7 tháng vẫn chưa khởi tố ?

Xin luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi xin trân thành cảm ơn!

Hỏi đáp thắc mắc về vụ án cố ý gây thương tích ?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới thư mục tư vấn của công ty chúng tôi, với câu hỏi của bạn chúng tôi xin trả lời như sau:

1. Theo quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009) về tội cố ý gây thương tích:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Theo đó, khi giám định thương tật bạn được xác định kết quả tổn thương do thương tích là 14%, do vậy đối tượng cố ý gây thương tích cho bạn sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm theo quy định tại khoản 1 Điều 104 BLHS.

2. Về yêu cầu giám định lại của bên cố ý gây thương tích cho bạn

Khoản 2 Điều 159 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 có quy định:

2. Việc giám định lại được tiến hành khi có nghi ngờ về kết quả giám định hoặc có mâu thuẫn trong các kết luận giám định về cùng một vấn đề cần giám định. Việc giám định lại phải do người giám định khác tiến hành.

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 215 BLTTHS thì:

5. Khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Tội cố ý gây thương tích theo bộ luật hình sự năm 2015 thì mức phạt thế nào ?

4. Quy định về bãi nại cho người bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích?

Kính thưa ban biên tập! Tôi có một vướng mắc thực tế muốn được quý ban biên tập giải đáp, rất mong nhận được sự giúp đỡ.Nội dung vụ việc như sau: Ngày 11/5/2016, Bùi Anh T, SN: 1992 dùng mã tấu chém gây thương tích cho anh Nguyễn T S. Cơ quan điều tra tiến hành giám định tỷ lệ thương tật tạm thời đối với anh S. Kết quả, anh S bị tổn thương 27% sức khỏe tạm thời. Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với T. Quá trình điều tra gia đình T đã bồi thường cho S và tác động để S viết bãi nại. Đồng thời, S bỏ đi khỏi địa phương nên Cơ quan điều tra không thể trưng cầu giám định lại. Vậy, có thể tiếp tục xử lý đối với T không? Kết quả giám định thương tật tạm thời có thể sử dụng để kết luận điều tra không? Văn bản quy định? Việc bắt tạm giam T như vậy có vi phạm tố tụng không?
Rất mong sớm nhận được hồi âm!

Quy định về bãi nại cho người bị khởi tố về tội cố ý gây thương tích?

Luật sư tư vấn luật Hình sự về hành vi cố ý gây thương tích, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới công ty Luật Minh Khuê. Trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Bộ luật Hình sự Điều 104 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi 2009. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dung hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn loại công cụ được coi là hung khí nguy hiểm như sau:

2.2. "Phương tiện nguy hiểm" là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

a. Về công cụ, dụng cụ

Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn...

b. Về vật mà người phạm tội chế tạo ra

Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ...

c. Về vật có sẵn trong tự nhiên

Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt...

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Đơn bãi nại thực chất là rút yêu cầu khởi kiện của người bị hại. Theo thông tin bạn cung cấp, anh T dùng mã tấu chém bị thương anh S, mã tấu là hung khí nguy hiểm, kết quả giám định là 27%. Theo khoản 1 điều 104 BLHS và khoản 1 điều 105 BLTTHS thì vụ án sẽ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. Do đó, khi người bị hại có đơn bãi nại trong trường hợp này thì người gây án, tức là anh T sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nữa.

Về việc bắt tạm giam anh T. Điều 88 khoản 1 điểm b BLTTHS quy định: "Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội." Hình phạt tù quy định với tội cố ý gây thương tích theo khoản 1 Điều 104 là phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, nếu tại thời điểm xảy ra vụ án, anh T có dấu hiệu trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử thì việc bắt tạm giam là đúng theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Cố ý gây thương tích 13% có bắt buộc phải ngồi tù?

5. Câu hỏi pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Do có mâu thuẫn với Linh, Long(15 tuổi 6 tháng) đã dùng dao nhọn đâm Linh nhiều nhát. Kết quả pháp y giám định Long đã gây thương tích cho Linh là 63%.

a, Loại tội phạm mà Long đã thực hiện ?

b, Long có phải chịu TNHS hay không và hình phạt cao nhất mà Long phải chịu là như thế nào ?

c, Giả sử khi thực hiện hành vi trong tình huống trên, Long đang mắc bệnh tâm thần thì Long có phải chịu TNHS hay không ? Tại sao ?

d, Nếu Long là người nước ngoài thì Long vấn đề TNHS được giải quyết như thế nào ? Tại sao ?

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.C

Câu hỏi pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê! Chúng tôi xin trả lời như sau:

Điều 12 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi 2009 quy định:

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Điều 104 Bộ luật hình sự quy định:

Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Có tổ chức;

g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

Theo thông tin bạn cung cấp thì Linh bị thương tích là 63%. Trường hợp này thuộc Khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Loại tội phạm quy định tại Khoản này là tội rất nghiêm trọng, lỗi cố ý. Đối chiếu với Khaonr 2 Điều 12 thì người từ đủ 14 tuổi trở lên mà phạm tội này thì phải chịu TNHS theo quy định. Do đó, Long 15 tuổi 6 tháng phải chịu TNHS về hành vi của mình.

Vấn đề a:

Hành vi của Long cấu thành Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác theo quy định tại Khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự. Loại tội phạm mà Long thực hiện là tội rất nghiêm trọng. (Mức phạt cao nhất là 15 năm tù, đối chiếu với phân loại tội phạm tại Khoản 3 Điều 8: 3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.)

Vấn đề b:

Long phải chịu TNHS theo những phân tích nêu trên, mức hình phạt cao nhất là đến 15 năm tù (Khoản 3 Điều 104).

Vấn đề c:

Nếu khi thực hiện hành vi, Long mắc bệnh tâm thần thì theo quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự:

Điều 13. Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự

1. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

2. Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Như vậy, gồm hai trường hợp như sau:

- Long mắc bệnh tâm thần dẫn đến mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh (Khoản 1 Điều 13).

- Long mắc bệnh tâm thần nhưng chưa đến mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì Long phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật; vì khi hành động, Long vẫn nhận thức được hành vi của mình, vẫn có lỗi đối với việc thực hiện hành vi.

Vấn đề d:

Nếu Long là người nước ngoài thì theo Khoản 2 Điều 5 Bộ luật hình sự:

" 2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao."

Do đó, nếu Long là người được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Nếu Long không thuộc đối tượng trên thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Long được thực hiện như đối với mọi tội phạm được thực hiện trong lãnh thổ Việt nam theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật hình sự :" Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam." và thực hiện thủ tục dẫn độ theo quy định tại khoản 2 Điều 343 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 như sau:

" Điều 343. Dẫn độ để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành án

Căn cứ vào các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập hoặc theo nguyên tắc có đi có lại, các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thể:

...

2. Thực hiện việc dẫn độ người nước ngoài có hành vi phạm tội hoặc bị kết án hình sự mà bản án đã có hiệu lực pháp luật đang ở trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho quốc gia yêu cầu để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc để chấp hành hình phạt.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã lựa chọn công ty Luật Minh Khuê! Trân trọng./.

>> Tham khảo nội dung liên quan: Tư vấn giải quyết vụ án cố ý gây thương tích?

6. Bị cả gia đình nhà chồng đánh đập, tôi muốn khởi kiện họ về hành vi cố ý gây thương tích thì phải làm như thế nào?

Thưa luật sư, tôi đã lấy chồng được 1 năm nay và đã có con 8 th​áng tuổi. Tôi với chồng tôi có xảy ra xích mích chuyện vợ chồng, anh ta đã tát tôi và đuổi mẹ con tôi ra khỏi nhà. Trong khi đó bố chồng tôi cũng chửi mắng tôi, khi ông ấy không biết chuyện gì cạ Nhưng sự việc nghiệm trong hơn vào ngày mùng 3/1 âm lịch vừa qua, vào lúc 8h sáng, vợ chồng tôi có to tiếng trong phòng.

Thì bố chồng tôi đã vào phòng tôi, tát tôi mấy cái sau đó đến người em chồng tôi cũng vào đánh tôi, trong khi tôi không có mâu thuẫn với họ. Sau đó được mẹ chồng tôi can ngăn nhưng họ vẫn vào đạp tôi mấy cái nữa vì họ cho rằng tôi xúi giúc em dâu bỏ chồng, trong khi đó không phải là sự thật. Họ làm cho cuộc sống tôi quá nhiều đâu khổ, vậy tôi muốn hỏi quý văn phòng tôi kiện họ thì phải làm sao?

Người gửi: Trần Thị H

Bị cả gia đình nhà chồng đánh đập, tôi muốn khởi kiện họ về hành vi cố ý gây thương tích thì phải làm như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Theo như những thông tin mà bạn cung cấp thì bạn đã kết hôn được 1 năm và có 1 con 8 tháng tuổi. Bạn và chồng hay có xích mích, chồng bạn đã có hành vi đánh bạn. Ngòi ra vào ngày 3/1 âm lịch, khi có xích mích xảy ra thì cả bố chồng và em chồng của bạn đều tham gia đánh đập bạn. Tuy chưa biết việc chồng và gia đình chồng đánh đập bạn nhiều lần chưa, có ai làm chứng không nhưng nếu đó là hành vi thường xuyên thì đây rất có thể là hành vi bạo lực gia đình. Theo quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì hành vi bạo lực gia đình là hành vi bị nghiêm cấm.

Đặc biệt là tại Điều 5 của Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007 cũng có quy định, khi mà có hành vi bao lực gia đình thì trong trường hợp này, người phụ nữ có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ sức khỏe, tính mạng của mình cũng như yêu cầu các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc…Cụ thể:

- Người bị bạo hành cần đến trình báo đến Ủy ban nhân dân xã để yêu cầu người chồng chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình; Cấm người chồng có hành vi bạo lực đến gần vợ…

- Người bị bạo hành có thể gửi đơn đến Tòa án cấp huyện yêu cầu áp dụng biện pháp cấm người chồng tiếp xúc trong thời gian tối đa 4 tháng. Trong trường hợp này, người vợ phải có các bằng chứng chứng minh hành vi bạo lực gây tổn hại đến sức khỏe và đe dọa đến tính mạng.

- Đến các cơ sở khám chữa bệnh, cơ sở bảo trợ xã hội, cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình… để được tư vấn về chăm sóc sức khỏe, ứng xử trong gia đình, các vấn đề về pháp lý và tâm lý để giải quyết tình trạng bạo lực gia đình…

- Đến khám và điều trị tại các cơ sở khám, chữa bệnh; nếu có bảo hiểm y tế, các chi phí khám và điều trị sẽ do Quỹ bảo hiểm y tế chi trả.

- Tố cáo với cơ quan công về hành vi của gia đình chồng với hành vi cố ý gây thương tích.

Về các hình thức xử phạt đối với hành vi bạo hành của gia đình chồng bạn

Hành vi của chồng, bố chồng, em chồng bạn là những hành vi bao lực, dù đó là ít hay nhiều thì cũng là trái quy định của pháp luật và đều phải gánh chịu những trách nhiệm pháp lý nhất định. Theo quy định tại Điều 49 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP, thì đối với hành vi trên thì chồng, bố chồng, em chồng bạn đánh đập gây thương tích cho bạn thì có thể bị phạt từ 01 – 1,5 triệu đồng. Bên cạnh đó chồng, bố chồng, em chồng bạn còn bị buộc phải xin lỗi công khai khi bạn có yêu cầu.

Nếu hành vi đó mà gây thương tích cho bạn từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng dùng hung khí nguy hiểm; dùng axit; gây cố tật nhẹ cho vợ hoặc phạm tội 02 lần trở lên thì sẽ bị xử lý về Tội cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 với mức phạt là cải tạo không không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…

Như vậy, bạn có nhiều cách thức để bảo vệ quyền và lợi ích hợp phá của mình. Và cách thức trên chỉ ở phương diện pháp lý bạn có thể dùng để tham khảo, Trong thực tế cách xủ lý đối với những trường hợp trên thì còn tùy thuộc vào tính chất, mức độ, hành vi nữa.

Trường hợp bạn muốn ly hồ thì có thể đọc các quy định về Ly hôn hoặc gọi điện thoại cho chúng tôi để được tư vấn cụ thể hơn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê