Cháu Em mới đón xe về Sài Gòn nói với thằng chủ xe là bạn nó lấy xe đi luôn rồi. Mà thằng chủ xe quen biết thằng ăn cắp xe nhưng không biết địa chỉ nhà nơi ở gì hết đó. Giờ thằng chủ xe nói cháu em thì dàn cảnh với thằng kia ăn cắp xe nó nó bắt đền. Giờ nó kêu đưa nó 5 triệu không nó báo công an. Mà giờ lỡ đưa 5 triệu vài bữa nó đòi tiếp thì tính sao? Xe nó hồi mua tầm 23 triệu. Mà cháu em nó không có lấy nó cũng chỉ giúp thằng chủ xe chở bạn nó đi tìm việc thôi.

Mong nhờ luật sư tư vấn giùm em về trường hợp này. Rất mong nhận được sự tư vấn của luật sư, Em xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

 

Trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 (Văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015, bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017)

Bộ luật Dân sự 2005 (văn bản mới: Bộ luật Dân sự năm 2015)

2. Nội dung phân tích

Về hành vi của người lấy xe ở đây đã cấu thành hành vi trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 BLHS

Điều 138. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng.

Xét về lỗi em bạn không có lỗi đối với việc để mất xe do đó em bạn không có nghĩa vụ phải bồi thường, mà bên có lỗi phải có nghĩa vụ bồi thường căn cứ quy định tại Điều 307 BLDS.

Điều 307. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần.

2. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất là trách nhiệm bù đắp tổn thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

3. Người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt hại.

Trong trường hợp, em bạn không thực hiện hành vi phạm tội nhưng người bạn đó một mực đổi tội, vu khống cho em bạn rằng đã lấy xe nhằm xúc phạm danh dự nhân phẩm của em bạn, về hành vi đó có thể cấu thành tội vu khống theo Điều 122 BLHS.

Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với nhiều người;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Đối với trường hợp này, bạn và em bạn nên đến Cơ quan Công an để khai báo, tường trình về việc mất xe. Và phía bên Công an sẽ có trách nhiệm làm rõ nguyên nhân, và trường hợp phạm tội này có đồng phạm hay không?. Vì người lấy xe lại là bạn của người đưa xe cho em bạn nên cũng cần đưa ra giả thiết người bạn này có liên quan gì đến việc mất xe không?.Do đó trong trường hợp này, em bạn nên thỏa thuận với người bị mất xe chờ cơ quan Công an xác nhận và tìm kiếm để trả lại tài sản cho người đó sớm nhất.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:  Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Emailđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê