Và về phòng em có đưa tiền cho bạn em và bạn em có điện thoại cho ai đó đem lại phòng,nhưng không may chưa sử dụng thì bị công an phường vào kiểm tra và bắt về phường,tang vật thu giữ là 1 tép ma túy đá và những dụng cụ để sử dụng. Khi về phường thì em cũng khai mọi chuyện như vậy và khi e hỏi mức phạt thì chú ấy nói là 750,nhưng phải đóng 1 triệu mới thả về,khi nào có quyết định xử phạt lên xử phạt xong đưa lại 250,nhưng tới sáng ngày hôm sau,có 1 chú công an khác làm việc và xin sdt của em,chú ấy nói tội của em là rủ gê,xúi dục người chưa đủ tuổi vị thành niên,tại vì trong đó có người bạn em mới sinh năm 98,rồi nói em là cung cấp địa điểm,dụng cụ để sử dụng ma túy,nhưng thật ra em không có,chỉ đưa tiền bạn em lấy thôi. chú ấy nói là mức phạt của em từ 5 đến 10tr,k thì đưa sang luật hình sự,phạt tù từ 4 năm tới 10 năm,em cũng không nhớ rõ là mấy năm,chú ấy giữ cmtnd của em và cho em về,kêu em khi nào đt thì em lên để giải quýêt và 1 tuần sao đó,chú đó đt em lên để giải quyết và đóng phạt,khi em lên công an phường gặp chú đó,nhưng khi làm việc chú ấy không mặt đồ công an và làm việc với em không công khai,chú ấy mời em lên lầu và vào phòng không ai hết và chú nói tội của em này kia và kêu em nộp 5 triệu vs 1 triệu hôm bữa nữa là 6 triệu và đưa cho em mấy tờ giấy gì đó kêu em ký vào,nhưng em không thấy ghi gì hết,xong chú ấy trả cmtnd,rồi kêu em về. Em thấy mình bị phạt oan hoặc chú ấy lợi dụng mình để phạt để lấy tiền, em nhờ luật sư giải đáp dùm em. Em cảm ơn nhìu ạ

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự công ty luật Minh Khuê.

 

Tư vấn tội mua bán sử dụng chất ma túy ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Kính thưa Quý khách hàng, Công ty TNHH Luật Minh Khuê đã nhận được yêu cầu của Quý khách. Vấn đề của Quý khách chúng tôi xin giải đáp như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009

Bộ luật tố tụng hình sự 2003, sửa đổi bổ sung 2011

Nội dung phân tích:

Theo như dữ liệu bạn cung cấp thì ở đây việc bạn và 2 người bạn còn lại thống nhất sử dụng ma túy đá tại khách sạn mà bạn đang thuê. Theo đó bạn có hành vi này cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, vì trong trường hợp của bạn thống nhất sử dụng khách sạn nơi bạn thuê để tiến hành sử dụng ma túy đá, cũng như bạn là người chi tiền để mua số ma túy đá này. Theo đó mức khung hình phạt được quy định tại khoản 2 điều 197 vì có người chưa thành niên tham gia.

"Điều 197. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Đối với người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi trở lên;

d) Đối với phụ nữ mà biết là đang có thai;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

e) Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho nhiều người;

d) Đối với trẻ em dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Gây chết nhiều người hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm mươi triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

Theo như dữ liệu bạn cung cấp thì bạn được gọi lên và chưa có quyết định khởi tố bị can thì bạn thuộc trường hợp người bị tạm giữ ( đã có quyết định tạm giữ ). Theo đó thì khi thực hiện hành vi bắt và lấy lời khai thì trong 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt. Trong trường hợp không có bất cứ một quyết định nào là sai quy định của pháp luật tố tụng hình sự, vì về cơ bản hành vi của bạn đã đủ cấu thành trách nhiệm hình sự chứ không phải là phạt hành chính nữa. Theo đó mọi lời khai của bạn đều được ghi lại và có chữ ký của điều tra viên và của bạn, Việc người này có hành vi cho bạn ký các tờ giấy trắng không có lời khai hay không phải biên bản điều tra là trái với quy định của pháp luật tố tụng hình sự, do đó bạn có thể khiếu nại về hành vi này với cấp trên của người đó.

"Điều 65. Những việc cần làm ngay sau khi nhận người bị bắt.
1- Sau khi nhận người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, cơ quan điều tra phải lấy lời khai ngay và trong thời hạn 24 giờ phải ra quyết định tạm giữ hoặc trả tự do cho người bị bắt."

"Điều 38. Người bị tạm giữ.
1- Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang và đối với họ đã có quyết định tạm giữ, nhưng chưa bị khởi tố.
2- Người bị tạm giữ có quyền được biết lý do mình bị tạm giữ; được giải thích quyền và nghĩa vụ; trình bày lời khai; đưa ra những yêu cầu; khiếu nại về việc tạm giữ và những quyết định khác có liên quan. Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về tạm giữ."

"Điều 53. Lời khai của người bị tạm giữ.
Người bị tạm giữ trình bày về những tình tiết liên quan đến việc họ bị nghi thực hiện tội phạm."

"Điều 102. Biên bản điều tra.
1- Khi tiến hành điều tra phải lập biên bản theo quy định tại Điều 78 Bộ luật này.
Người lập biên bản phải đọc lại biên bản cho người tham gia tố tụng nghe, giải thích cho họ biết quyền được bổ sung và nhận xét về biên bản. Nhận xét đó được ghi vào biên bản. Người tham gia tố tụng cùng ký tên vào biên bản với người lập biên bản.
2- Trong trường hợp người tham gia tố tụng từ chối ký vào biên bản, thì việc đó phải được ghi vào biên bản và nêu rõ lý do.
3- Nếu người tham gia tố tụng vì nhược điểm về thể chất, tâm thần hoặc vì lý do khác mà không thể ký vào biên bản thì phải ghi rõ lý do; người lập biên bản và người chứng kiến cùng ký xác nhận.
Người không biết chữ thì điểm chỉ vào biên bản."

"Điều 106. Giấy triệu tập bị can.
1- Giấy triệu tập bị can cần ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can; ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm có mặt, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không có lý do chính đáng.
2- Giấy triệu tập bị can được gửi cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can cư trú hoặc cho Thủ trưởng cơ quan, tổ chức nơi bị can làm việc để giao cho bị can.
Khi nhận giấy triệu tập, bị can phải ký nhận, có ghi rõ ngày, giờ nhận. Nếu bị can không ký nhận thì phải lập biên bản về việc đó và gửi cho cơ quan điều tra. Nếu bị can vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho một người đã thành niên trong gia đình. Bị can đang bị tạm giam được triệu tập, thông qua Ban giám thị trại giam.
3- Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập. Trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc có biểu hiện trốn tránh thì cơ quan điều tra ra quyết định áp giải. Quyết định này phải được đọc cho bị can nghe trước khi áp giải."

"Điều 107. Hỏi cung bị can.
1- Việc hỏi cung bị can phải do điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó.
Trước khi hỏi cung, điều tra viên phải đọc quyết định khởi tố bị can và giải thích cho bị can biết rõ quyền và nghĩa vụ.
Nếu vụ án có nhiều bị can thì hỏi riêng từng người và không để họ tiếp xúc với nhau. Có thể cho bị can tự viết lời khai của mình.
2- Không hỏi cung vào ban đêm, trừ trường hợp không thể trì hoãn được, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản.
3- Điều tra viên bức cung hoặc dùng nhục hình đối với bị can thì phải chịu trách nhiệm theo Điều 234 và Điều 235 Bộ luật hình sự."
"Điều 108. Biên bản hỏi cung bị can.
1- Biên bản hỏi cung bị can phải lập theo quy định của Điều 78 Bộ luật này.
Mỗi lần hỏi cung đều phải lập biên bản. Biên bản phải ghi đầy đủ lời trình bày của bị can, các câu hỏi và câu trả lời.
2- Sau khi hỏi cung, điều tra viên đọc lại biên bản cho bị can nghe hoặc để bị can tự đọc. Trong trường hợp có bổ sung và sửa chữa biên bản, thì bị can và điều tra viên cùng ký xác nhận. Nếu biên bản có nhiều trang thì bị can ký vào từng trang của biên bản. Trong trường hợp bị can tự viết lời khai thì điều tra viên và bị can cùng ký xác nhận tờ khai đó.
Nếu việc hỏi cung được ghi âm thì sau khi hỏi cung, phải phát lại để bị can và điều tra viên cùng nghe. Biên bản phải ghi lại nội dung việc hỏi cung, bị can và điều tra viên cùng ký xác nhận.
Trong trường hợp hỏi cung bị can có người phiên dịch thì điều tra viên phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, đồng thời giải thích cho bị can biết được quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch. Người phiên dịch và bị can cùng ký vào từng trang của biên bản hỏi cung.
3- Khi hỏi cung có mặt người bào chữa, người đại diện hợp pháp của bị can thì điều tra viên phải giải thích cho họ biết quyền và nghĩa vụ trong khi hỏi cung bị can. Bị can, người bào chữa, người đại diện hợp pháp cùng ký vào biên bản hỏi cung."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về, luật thuế và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email  hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hình sự.