Và người chồng của chị ta cư khẳng định những tin nhắn đấy là của em ! Hôm nay chị ta lên nhà bố mẹ chồng em và cả nhà bố mẹ em nói là sáng nay lúc 7 giờ sáng em vẫn nhắn tin cho chồng chị ta nhưng lúc đó e vẫn chưa ngủ dạy và ông chồng chị ta vẫn nói đấy là tin nhắn của em ! Những số điện thoại đấy không phải của em ! Làm cho em rất mệt mỏi ! Chị ta còn nhắn tin lăng mạ chửi bới ! Em phải làm gì để chấm rứt tình trạng này. Em muốn gửi đơn trình báo công an về vấn đề này thì em phải làm như thế nào ?

Em xin trân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự.

Tư vấn tội vu khống có quan hệ ngoài luồng ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.6162

Nội dung trả lời

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

 

Căn cứ pháp lý

Bộ Luật hình sự 1999 

Bộ luật Tố tụng Hình sự số 19/2003/QH11 của Quốc hội

Nội dung tư vấn

Để chấm dứt tình trạng này, nếu bạn có đầy đủ chứng cứ chứng minh mình không làm cũng như lưu giữ lại tin nhắn của người phụ nữa đó thì bạn có quyền kiện cô ấy về tội vu khống theo Điều 122 Bộ luật hình sự 1999  hoặc  tội làm nhục người khác theo Điều 121 Bộ luật hình sự 1999 :

Điều 121. Tội làm nhục làm nhục

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai  năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm:

a) Phạm tội nhiều lần;

b) Đối với nhiều người;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Điều 122. Tội vu khống

1. Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c)  Đối với nhiều người;

d)  Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ)  Đối với người thi hành công vụ;

e) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Nếu bạn muốn gửi đơn trình công an thì bạn chỉ cần viết đơn và cung cấp thông tin đầy đủ trong đơn thì cơ quan có thẩm quyền sẽ giải quyết.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự.