Trong thời gian từ 5/5/2015 - 11/5/2015 gia đình tôi và anh B đã chuyển đủ cho cô C tổng số tiền là hơn 641 triệu (một số đưa trực tiếp và đa số chuyển khoản ngân hàng). Do tin tưởng cô C làm ở ngân hàng M và có quan hệ thường xuyên với các bên liên quan đến mua bán nhà đất, nên khi cô C mang hợp đồng công chứng (đã đủ dấu và chữ ký công chứng viên) đến nhà cho chúng tôi ký, chúng tôi đã không nghi ngờ gì mà ký luôn. Tuy nhiên, sau khi đi kiểm tra bản sao sổ đất mà cô C cung cấp, chúng tôi phát hiện ra đó là sổ giả, và hợp đồng công chứng cũng là giả, ngày 14/5/2015 chúng tôi đã nói chuyện với cô C.

Tất nhiên là cô C giải thích là không biết có việc giả mạo đó và nếu đúng là vậy thì sẽ rút tiền về cho chúng tôi. Ngày 15/5/2015, cô C chuyển khoản trả cho gia đình tôi 80 triệu, cho a B 308,5 triệu. Ngày 18/5/2015, cô C chuyển cho gia đình tôi thêm 200 triệu và hứa sẽ trả số còn lại bằng tiền mặt sau. Toàn bộ số tiền mà cô C chuyển trả gia đình tôi, tôi đã dùng để trả lại hết cho những người tôi vay khi mua đất (chuyển khoản cho 3 người) vào cùng ngày 15/5 và 18/5. Đến đêm ngày 19/5 chúng tôi mới được biết là cô C đã bị công an TP Vũng Tàu bắt hồi chiều. Sáng 25/5, công an TP triệu tập chúng tôi lên làm việc và yêu cầu chúng tôi phải hoàn trả toàn bộ số tiền mà cô C đã chuyển trả chúng tôi, với lý do là số tiền đó là do cô C lừa của một bà D mà có. Họ yêu cầu chúng tôi phải cam kết trong 1 tháng phải trả cho bà D số tiền chúng tôi đã nhận lại từ cô C, nếu không họ sẽ phong tỏa tài khoản và truy tố chúng tôi. Còn với số tiền mà cô C lừa chúng tôi, họ bảo chúng tôi làm đơn kiện để họ xử lý tiếp riêng. Họ nói rằng họ đang lần theo dòng tiền, tức là nếu cô C nhận tiền từ bà D để trả cho tôi và anh B, thì tôi và anh B phải trả lại số tiền đó cho bà D; còn số tiền cô C nhận từ tôi và anh B đi đâu hoặc trả cho ai thì họ phải tìm hiểu tiếp (thực sự tôi không biết nếu họ k0 tìm ra thì có phải chúng tôi sẽ mất trắng không).

Vậy kính mong luật sư dành chút thời gian tư vấn giúp chúng tôi xem trường hợp trên thì:

1. Công an TP Vũng Tàu có quyền yêu cầu chúng tôi phải trả lại số tiền đó cho bà D hay không?

2. Nếu họ có quyền yêu cầu như vậy, và nếu chúng tôi không trả được trong 1 tháng (vì toàn là tiền chúng tôi vay bạn bè) thì họ được quyền làm gì chúng tôi?

3. Nếu họ không tìm ra được số tiền chúng tôi chuyển cô C đã đi đâu, thì chúng tôi có thể làm gì?

Rất cảm ơn sự giúp đỡ tư vấn của luật sư! Trân trọng.

Người gửi: P.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

 Tư vấn trường hợp lừa đảo mua bán đất ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi số: 1900.6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật Dân sự 2005 (văn bản mới: Bộ luật dân sự năm 2015)

Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 (văn bản mới: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015)

Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 (Văn bản mới: Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015)

2. Nội dung tư vấn:

Theo như nội dung thư mà bạn trình bày với chúng tôi thì giao dịch giữa bạn và cô C có dấu hiệu của giao dịch dân sự vô hiệu do lừa dối bởi lẽ không hề có việc mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, các loại giấy tờ cũng hoàn toàn là giả khiến cho bạn hiểu nhầm nội dung của giao dịch:

"Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa  

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó."

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005, trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối sẽ được xử lý như sau:

"Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu  

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường."

Do đó, C có nghĩa vụ phải hoàn trả phần tiền đã nhận của bạn. Tuy nhiên, vì phần tiền mà C trả cho bạn có liên quan đến vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản nên cơ quan công an có thể tạm thời thu giữ số tiền này nếu nó trực tiếp phục vụ cho quá trình điều tra và việc thu giữ vật chứng này là cần thiết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003:

"Vật chứng cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án."

Sau đó việc xử lý số tiền mà cơ quan công an tạm thời thu giữ được sẽ được xử lý như sau:

"Điều 76. Xử lý vật chứng

1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

2. Vật chứng được xử lý như sau:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ;

b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước;

c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật;

đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ.

3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án.

4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự."

Do đó, với số tiền này, cơ quan công an nếu có thể xác minh được chủ sở hữu của khoản tiền này bị chiếm đoạt một cách trái pháp luật thì cơ quan có thẩm quyền sẽ trả lại cho chủ sở hữu. Nếu cơ quan công an không xác minh được số tài sản này thuộc sở hữu của ai thì sẽ do Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật dân sự

Theo đó, với trường hợp của bạn, công an có quyền tạm thời thu giữ khoản tiền đó nếu khoản tiền này có giá trị chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án như chúng tôi đã nêu trên. Họ không có quyền yêu cầu bạn trả lại khoản tiền đó trực tiếp cho bà D vì chưa có quyết định của tòa án về vấn đề xác định ai là chủ sở hữu thực sự của khoản tiền này. Do yêu cầu hoàn trả tiền cho bà D mà cơ quan công an đưa ra cho các bạn là không có căn cứ pháp luật nên việc không giao trả tiền cho bà D của bạn sẽ không phải chịu trách nhiệm pháp luật.

Trường hợp cơ quan điều tra không tìm ra được số tiền của các bạn chuyển cho cô C đã đi đâu thì các bạn có thể yêu cầu cô C phải thực hiện nghĩa vụ trả lại tiền cho các bạn. Nếu cô C không trả, các bạn có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cô C cư trú, làm việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004 để Tòa án tiến hành áp dụng các biện pháp bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của bạn.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật MInh Khuê