Các bằng chứng tôi có được:

1. Hangout trên gmail về hành vi đe dọa giết tôi và giết cả nhà tôi, và hành vi sỉ vả nhân phẩm vô căn cứ của người đó.

2.Người đó đã dùng dao gí vào cổ, đe dọa tôi, bắt tôi gọi điện thoại cho vài người để nói điều hắn muốn

3.Người đó đã đánh tôi, xô đẩy tôi

4. Sử dụng tài khoản cá nhân của tôi gửi mail và nói chuyện không hay với những người bạn của tôi, và phá hạnh phúc người khác để người khác nhắn tin sỉ vả tôi

5. Đoạn ghi âm ghi lại hành vi muốn thuê giang hồ giết hai em của tôi.

6. Ngày hiện tại tôi vẫn bị đe dọa.

Vậy với những hành vi trên có thể viết đơn tố cáo không? Và theo đánh giá quý công ty thì có truy cứu trách nhiệm hình sự không? Mong sự phản hồi sớm từ quý công ty. Xin chân thành cảm ơn !

Câu hỏi được biên tập từ bộ phận tư vấn pháp luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 19006162

Trả lời:

 

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp lý:

Luật tố cáo 2011

Nội dung:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật tố cáo 2011, tố cáo là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Như vậy, qua những bằng chứng mà bạn vừa cung cấp, bạn hoàn toàn có thể viết đơn tố cáo người có hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của bạn. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 9 và khoản 2 Điều 19 Luật tố cáo 2011, bạn cần lưu ý về hình thức đơn tố cáo và những nghĩa vụ sau để tránh trường hợp đơn tố cáo không được thụ lý.

Khoản 2 Điều 9 Luật tố cáo 2011 quy định:

"Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

...

2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a) Nêu rõ họ, tên, địa chỉ của mình;

b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được;

c) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo của mình;

d) Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra."

Khoản 2 Điều 19 Luật tố cáo 2011 quy định:

"Điều 19. Hình thức tố cáo

...

2. Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo. Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo."

Theo quy định tại khoản 3 Điều 20 và Điều 28 Luật tố cáo 2011, nếu trong quá trình xác minh phát hiện thấy có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan, tổ chức nhận được tố cáo có trách nhiệm chuyển hồ sơ, tài liệu và những thông tin về vụ việc tố cáo đó cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900 6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật hình sự.