1. Tư vấn về đứng tên hộ khi mua trả góp xe máy ?

Xin chào luật Minh Khuê, em có thắc mắc mong được giải đáp: Hồi trước em có làm mất xe của một người bạn. Tuy người bạn đó không yêu cầu em phải đền nhưng người đó có nhờ em đứng tên mua xe trả góp dùm cho người đó, về phần tiền bạc người đó tự lo nên em đồng ý.

Nhưng người bạn đó chỉ góp tiền xe được vài tháng thì không góp nữa. Hiện tại bên công ty trả góp điện thoại cho em và yêu cầu em phải đóng tiền xe. Em có điện thoại cho người bạn đó nhưng không bắt máy nên em có nhờ bên thu hồi nợ của công ty đó xuống lấy lại xe. Khi xuống gặp gia đình người bạn đó thì mẹ bạn đó có ký một bản cam kết với bên thu hồi nợ hứa là sẽ đóng tiền đầy đủ nếu không thì thu hồi nợ sẽ xuống lấy xe và tháng đó đóng tiền đầy đủ. Nhưng hiện tại tháng này người bạn đó chưa đóng tiền. Điện thoại cho người đó và gia đình thì đều khóa máy. Em nghe nói người đó đi xe lên Sài Gòn. Tất cả giấy tờ liên quan đến xe là em đứng tên hết nên bên công ty chỉ điện thoại kiếm em. Nếu người đó bán hoặc cầm chiếc xe đó thì em có thể đến cơ quan chức năng tố cáo người đó về tội lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản và tiêu thụ đồ gian không ạ?

Em xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Hoa

Tư vấn về đứng tên hộ khi mua trả góp xe máy ?

Luật sư tư vấn trách nhiệm hình sự khi bán tài sản mua trả góp, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về thư mục tư vấn của công ty luật Minh Khuê, với câu hỏi này luật Minh Khuê trả lời như sau:

Hiện nay, trường hợp đứng tên hộ khi mua trả góp xe máy rất phổ biến. Những người đứng tên hộ thường sai lầm cho rằng người nào sở hữu chiếc xe máy thì người đó mới phải chịu trách nhiệm khoản vay và dẫn đến việc họ phải chịu một khoản nợ. Căn cứ vào điều 122, Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 của Quốc hội, giao dịch mua xe máy trả góp mà bạn đứng tên hộ thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực bao gồm tự nguyện, không vi phạm điều cấm và không trái đạo đức xã hội. Do đó khi xác lập sẽ ràng buộc người đứng ra ký kết với các quyền và nghĩa vụ mà hợp đồng ghi nhận. Thậm chí, trong trường hợp người đứng ra ký tên là bạn bị lừa dối dẫn đến hành vi nhầm lẫn về tính chất của giao dịch thì cũng rất khó chứng minh để yêu cầu tuyên bố giao dịch trên là vô hiệu theo điều 132, Bộ luật Dân sự 2005. Trong khi đó người bạn nhờ bạn đứng tên trong giao dịch trả góp thì lại không hề xác lập bất cứ mối quan hệ nào với công ty bán xe máy. Cho nên trường hợp xấu bạn có thể sẽ bị công ty bán xe máy kiện ra tòa vì không thực hiện đúng hợp đồng.

Còn việc bạn muốn tố cáo người bạn của bạn ra cơ quan chức năng với tội lợi dụng lòng tin chiếm đoạt tài sản và tiêu thụ đồ gian thì cần phải có chứng cứ chứng minh giữa bạn và người bạn có hợp đồng thỏa thuận về giao dịch mua trả góp xe máy này vì tội lạm dụng tín chiếm đoạt tài sản dựa trên cơ sở hai bên phải có hợp đồng (vay, mượn, thuê, trông giữ, bảo quản, vận chuyển...) cho nên việc tố cáo rất khó khăn.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi. Trân trọng./.

2. Tư vấn giải quyết việc nhờ mua trả góp ?

Khoảng gần 1 năm về trước em có giúp anh em ở cùng phòng, nói chung là anh ấy đi làm còn em đi học, anh ấy có nhờ em đăng ký mua 1 cái laptop 9 triệu đồng em nhớ là đã trả 1 nửa số tiền đấy rồi, sau đợt tết ra anh ấy chuyển chỗ làm ko đi làm ở đấy nữa rồi em cũng mất liên lạc với anh ấy luôn Sau 1 thời gian nói chuyện với bạn anh ý qua facebook, bạn anh ấy có nói chuyện là anh ấy mượn cả số dt anh ấy để xác minh mua trả góp tên của em giờ anh thấy bên luật sư điện hỏi em đấy nhưng anh sợ ảnh hưởng đến em nên anh bảo anh không biết em, nhưng anh thấy người ta gọi nhiều quá nên anh mới nói chuyện để em biết, lúc này em mới biết là anh ở cùng với em còn đang nợ chưa trả hết số tiền đấy!

Mà bây giờ người mua trả góp cho anh ấy là em đứng tên, theo đúng lời anh kia nói thì em thật sự rất hoang mang, em sợ có kiện tụng gì lại ảnh hưởng đến gia đình và ngay cả bản thân em nữa, giờ em muốn liên lạc với bên mua trả góp kia em phải nói thế nào được ạ, với lại em muốn nói với người ta em trả nốt số tiền anh ấy nợ lại đấy bên kia có nghe không ạ, em sợ bên ý bắt em trả nốt số tiền và tính lãi suất từ ngày đấy đến bây giờ thì em thật sự không trả được, đấy chính là lý do em không dám gọi cho bên kia nói về vấn đề này. Xin luật sư cho em lời khuyên cũng như phương án giải quyết hợp lý nhất với ạ ?
Mong luật sư giải đáp cho em sớm qua email với ạ. em xin chân thành cảm ơn ạ!

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Vấn đề của bạn chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Trong trường hợp này, vì bạn là người đứng tên mua trả góp chiếc laptop cho anh kia nên theo thủ tục giao dịch bạn có nghĩa vụ phải hoàn trả lại nốt số tiền còn lại cho bên bán hàng. Cụ thể Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về nghĩ vụ trả nợ như sau:

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Theo đó, nếu bạn không đủ tiền để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bạn nên dùng các biện pháp liên lạc để thông báo cho người kia để có thể chia sẻ nghĩa vụ trả nợ với mình. Trường hợp mà sau khi tìm mọi cách thông báo nhưng không thấy thì bạn có thể trình báo đến cơ quan điều tra vì có thể rơi vào tội phạm lừa đảo hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản... với số tiền chiếm đoạt là 9 triệu đồng cùng với tiền lãi trả góp thì đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

3. Bán xe trong thời gian mua trả góp từ ngân hàng ?

Thưa Luật sư! Tôi có câu hỏi xin được tư vấn như sau: Tôi có mua xe trả góp nhưng không còn khả năng góp và muốn bán xe để thanh toán tiền góp cho ngân hàng. Nhưng không nhận được hỗ trợ từ phía ngân hàng là giao giấy đăng ký xe gốc vì thế tôi không bán được xe, vậy tôi có thể báo thất lạc hoặc mất giấy đăng ký xe để CSGT cấp giấy đăng ký mới không, và tôi có quyền yêu cầu ngân hàng giao giấy đăng ký xe cho tôi không?

Xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Nam

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được tư vấn như sau:

Theo qui định tại điều 461 Bộ luật Dân sự 2005 về việc mua bán theo phương thức trả góp:

"Điều 461. Mua trả chậm, trả dần

1. Các bên có thể thoả thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận vật mua; bên bán được bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với vật bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng vật mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thoả thuận khác."

Theo đó, trong trường hợp của bạn, bên bán vẫn có quyền sở hữu đối với tài sản vì bạn chưa hoàn thành nghĩa vụ thanh toán của mình, bạn không có quyền định đoạt tài sản này. Do đó, việc bạn báo thất lạc hoặc mất giấy đăng ký xe để CSGT cấp giấy đăng ký mới, từ đó thực hiện thủ tục bán xe là không phù hợp với các quy định của pháp luật.

Trong trường hợp này, bạn có thể báo với bên bán xe để họ có phương án xử lý cho phù hợp và tiến hành chấm dứt hợp đồng giữa bên bán và bạn.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Chúc bạn thành công! Trân trọng!

4. Mua trả góp không trả đúng hẹn có bị Truy cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Xin chào luật sư. Em có vấn đề như sau mong được Luật sư giải đáp: Em có mua trả góp một chiếc điện thoại ở ngân hàng VPBank. Khi làm hồ sơ em cung cấp đầy đủ thông tin và là sự thật hoàn toàn. Sau tháng đầu tiên em có bị tai nạn không đi lại được nên không trả góp được cho ngân hàng và em sau đó đi làm xa và ở nơi rất xa nơi đi lại khó khăn và không có sóng điện thoại nên bên ngân hàng không liên lạc được với em và có liên lạc với số tham chiếu là em họ em nhờ nhắn với em hãy trả tiền cho ngân hàng.

Và 2 tháng vừa rồi em không về nhà, em mới về lúc 21h30 hôm nay. Và lúc 18h hôm nay bên ngân hàng có gọi cho em họ em nhắn dùm trả tiền cho ngân hàng. Và đứa em họ có báo lại với em tình hình như vậy, em định sáng mai sẽ đóng tiền và đi làm, nhưng tới 22h08 hôm nay em họ em có nhận được tin nhắn từ một số điện thoại lạ không dấu là văn phòng luật sư TPHCM mời em ngày 29/4 tới đến TAND tỉnh làm thủ tục khởi kiện về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 bộ luật hình sự. Em đang rất lo lắng nhờ luật sư cho em hỏi với tình hình như vậy em có bị kết án có tội lừa đảo hay không ạ. Mà theo sự hiểu biết của em nếu có làm các thủ tục pháp lý kiện tụng thì bên TAND phải có văn bản cụ thể để triệu hồi chứ đây là một tin nhắn không rõ nguồn gốc thì có đáng tin cậy không ạ.

Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1/Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009) quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm."

Khoản 1 Điều 1 BLHS sửa đổi bổ sung 2009 quy định như sau:

"Sửa đổi cụm từ “hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình” thành cụm từ “hai mươi năm hoặc tù chung thân” tại khoản 3 Điều 111, khoản 4 Điều 139, khoản 4 Điều 153, khoản 3 Điều 180, khoản 4 Điều 197, khoản 3 Điều 221, khoản 4 Điều 289 và khoản 4 Điều 334."

Như vậy, có thể phân tích về các mặt cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

* Mặt khách quan: Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:

a) Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản

- Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản

- Chiếm đoạt tài sản, được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối

Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn dùng thủ đoạn cân, đong, đo đếm gian dối nhằm ăn gian, bớt của khách hàng hoặc để bán hàng giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.

Lưu ý: thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa gia tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

- Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự

- Trường hợp hành vi gian dối, hay hành vi chiếm đoạt cấu thành vào một tội danh độc lập khác, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà chí bị truy cứu những tội danh tương ứng đó. Ví dụ, như hành vi gian dối làm tem giả, vé giả …( Điều 164 Bộ luật hình sự), hành vi gian dối trong cân đong đo đếm, tình gian, đánh tráo hàng ( Điều 162 Bộ luật hình sự), hành vi lừa đảo chiếm đoạt chất ma tuý (Điều 194 Bộ luật hình sự), hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là lương thực thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 157); hành vi buôn bán sản xuất hàng giả là thức ăn chăn nuôi, phân bón thuốc thú y, bảo vệ thực vật, giống cây trồng vật nuôi (Điều 158 Bộ luật hình sự) đều có dấu hiệu gian dối.

b) Dấu hiệu khác

Về giá trị tài sản chiếm đoạt: Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải từ hai triệu đồng trở lên

Nếu dưới hai triệu đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bi kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Đây là dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này.

* Khách thể
Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác

* Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý

Tuy nhiên cần lưu ý:

Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt cấu thành tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp phạm tội làm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định

Ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng ( như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

Theo đó, bạn không hề có ý định chiếm đoạt tài sản từ trước và mọi thông tin bạn đưa ra đều là sự thật, như vậy, bạn không đủ các yếu tố để cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, việc bạn không thực hiện các nghĩa vụ của mình với ngân hàng là lỗi của bạn và bạn phải chịu trách nhiệm bồi thường hợp đồng và thiệt hại (nếu có) đối với ngân hàng.

2/ Điefu 129 Bộ luật TTHS 2003 quy định như sau:

"Điều 129: Triệu tập bị can

1. Khi triệu tập bị can, Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập. Giấy triệu tập bị can ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can; ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm có mặt, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không có lý do chính đáng.

2. Giấy triệu tập bị can được gửi cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can cư trú hoặc cho cơ quan, tổ chức nơi bị can làm việc. Cơ quan, tổ chức nhận được giấy triệu tập có trách nhiệm chuyển ngay giấy triệu tập cho bị can.

Khi nhận giấy triệu tập, bị can phải ký nhận, có ghi rõ ngày, giờ nhận. Người chuyển giấy triệu tập phải chuyển phần giấy triệu tập có ký nhận của bị can cho cơ quan đã triệu tập bị can; nếu bị can không ký nhận thì phải lập biên bản về việc đó và gửi cho cơ quan triệu tập bị can; nếu bị can vắng mặt thì có thể giao giấy triệu tập cho một người đã thành niên trong gia đình để ký xác nhận và chuyển cho bị can. Bị can đang bị tạm giam được triệu tập thông qua Ban giám thị trại tạm giam.

3. Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập. Trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng hoặc có biểu hiện trốn tránh thì Điều tra viên có thể ra quyết định áp giải.

4. Trong trường hợp cần thiết, Kiểm sát viên có thể triệu tập bị can. Việc triệu tập bị can được tiến hành theo quy định tại Điều này."

Như vậy, khi TAND muốn triệu tập bạn để tiến hành thì cần có giấy triệu tập ghi rõ họ tên, chỗ ở của bị can; ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm có mặt, gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không có lý do chính đáng chứ không phải qua tin nhắn như bạn nhận được. Vì vậy, để xác thực lại thông tin và giải quyết vụ việc, bạn cần đến ngân hàng để hòa giải và tiến hành các nghĩa vụ của mình với bên ngân hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

5. Hoàn lại điện thoại mua trả góp khi không có khả năng trả tiền ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Tôi có mua một chiếc điện thoại trả góp 9 tháng. Sau khi mua, tôi thất nghiệp không có điều kiện chi trả tiền. Vậy tôi hoàn trả lại đồ vật là chiếc điện thoại có được không?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: D.P

Hoàn lại điện thoại mua trả góp khi không có khả năng trả tiền ?

Cám ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi. Trả góp hay nói cách khác là hình thức trả chậm được quy định trong Bộ luật dân sự 2005. Cụ thể, điều 461 Bộ luật dân sự quy định:

Điều 461. Mua trả chậm, trả dần

1. Các bên có thể thoả thuận về việc bên mua trả chậm hoặc trả dần tiền mua trong một thời hạn sau khi nhận vật mua; bên bán được bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với vật bán cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Hợp đồng mua trả chậm hoặc trả dần phải được lập thành văn bản. Bên mua có quyền sử dụng vật mua trả chậm, trả dần và phải chịu rủi ro trong thời gian sử dụng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Pháp luật không quy định việc bạn có thể trả lại tài sản sau khi mua trả chậm. Vì thế, bạn chỉ có thể trả lại tài sản đã mua nếu bạn có thể thỏa thuận được với cửa hàng điện thoại đã bán tài sản cho bạn.

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty chúng tôi! Bạn có thể gọi điện đến Luật sư tư vấn pháp luật dân sự: 1900.6162 để được tư vấn trực tiếp những vướng mắc của bạn! Trân trọng!

6. Mua trả góp nhưng không trả được bị xử lý như nào ?

Kính thưa luật sư, Em có mua trả góp điện thoại và hạn trả là 3 tháng. Em đã thanh toán 2 tháng và tháng cuối cùng em không có khả năng thanh toán. Mỗi tháng là 900.000 ngàn. Nhưng lúc mua e đã khai không đúng sự thật về thông tin địa chỉ nhà, và người tham chiếu không phải là người thân. Nay do em bỏ nhà đi rất lâu. Do thất nghiệp dài hạn nên em không có điều kiện thanh toán. Nay em xin luật sư tư vấn giúp em tình huốn này em bị xử phạt như thế nào ạ ?

Em chân thành cảm ơn!

Người gửi: H.K

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc của mình đến công ty chúng tôi. Về thắc mắc của bạn, chúng tôi xin được giải đáp như sau:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn có mua trả góp điện thoại và hạn trả là 3 tháng. Bạn đã thanh toán 2 tháng và tháng cuối cùng bạn không có khả năng thanh toán. Mỗi tháng là 900.000 ngàn. Nhưng lúc mua bạn đã khai không đúng sự thật về thông tin địa chỉ nhà, và người tham chiếu không phải là người thân. Nay do bạn bỏ nhà đi rất lâu. Do thất nghiệp dài hạn nên bạn không có điều kiện thanh toán.

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005 thì bạn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bên mua theo đúng hợp đồng mua bán giữa hai bên tuân theo quy định tại Điều 283 như sau: “Bên có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác, đúng cam kết, không trái pháp luật, đạo đức xã hội”.

Lúc mua bạn đã khai không đúng sự thật về thông tin địa chỉ nhà, và người tham chiếu không phải là người thân và hiện nay bạn lại bỏ trốn không trả tiền nên hành vi của bạn có thể bị truy cứu TNHS theo Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009) về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm....

Tuy nhiên để tránh những bất lợi thì thì bạn có thể thỏa thuận với cửa hàng nơi mua điện thoại để thỏa thuận về việc chậm thực hiện nghĩa vụ của mình.

Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn trực tiếp. Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua điện thoại, gọi: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê