Qua 45 ngày tôi không làm được vì chiếc xe đó diện nhập lậu (Không tìm xác minh được địa chỉ người nhập). Hồ sơ chiếc ô tô này vẫn nằm bên phòng công an kinh tế. Sau đó người bạn có nói với tôi cứ tìm cách để làm tiếp không quan trọng thời gian. Đến nay sau 1 năm tôi vẫn chưa làm được, người bạn có đề cập đến vấn đề trả tiền lại. Tôi nói để tôi thu xếp trong vài tháng sẽ có hướng gửi lại vì thời gian này tôi có bị kẹt tiền. Người bạn không đồng ý và yêu cầu tôi phải trả ngay, nếu không sẽ kiện. Xin hỏi luật sư nếu kiện thì sẽ như nào? Số tiền tôi nhận là hơn 200 triệu đồng.

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật hình sự của công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn về hạn mục nộp thuế khi mua ô tô nhập khẩu?.

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162 

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi về cho Công ty Luật Minh Khuê. Vấn đề của bạn chúng tôi giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

Bộ luật hình sự 1999

2. Nội dung tư vấn:

- Theo tình huống bạn nêu ở trên: bạn viết giấy biên nhận của một người bạn để đóng thuế cho chiếc xe ô tô nhập theo diện Việt kiều hồi hương, trong đó ghi rõ thời gian làm nộp thuế là 45 ngày nếu không xong bạn sẽ trả lại tiền; như vậy, việc làm này của người bạn đó là hành vi ủy quyền cho bạn xác lập, thực hiện giao dịch dân sự mà ở đây là đóng thuế cho xe ô tô nhập khẩu. Hay nói cách khác, trường hợp này là đại diện theo ủy quyền quy định tại Điều 143 Bộ luật dân sự 2005. Do đó, khi người bạn của bạn hủy bỏ việc ủy quyền thì việc đại diện chấm dứt; đồng thời, bạn phải thanh toán xong nghĩa vụ tài sản với người bạn của bạn mà ở đây là trả lại số tiền bạn đã nhận được để thực hiện nghĩa vụ đã được ủy quyền trước đó.

- Tuy nhiên, việc trả lại tiền sẽ được xác định trong giấy biên nhận mà hai bạn đã thỏa thuận từ trước (nếu có) hoặc do pháp luật quy định. Trong trường hợp hai bên không thỏa thuận và pháp luật không quy định về thời hạn thực hiện nghĩa vụ dân sự thì các bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải thông báo cho nhau biết trước một khoảng thời gian hợp lý (Khoản 2 Điều 285 Bộ luật dân sự 2005). Vì vậy, nếu trong giấy biên nhận không quy định vấn đề trả tiền, thì việc bạn của bạn yêu cầu trả tiền ngay là không đúng pháp luật.

- Trong trường hợp hai bên đã thỏa thuận lại việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền mà bạn vẫn không trả thì bạn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với người bạn của bạn.

Nếu người bạn của bạn có đủ chứng cứ thì bạn có thể sẽ bị kiện vì tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 140 Bộ luật hình sự 1999:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật về và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Nếu có bất kỳ thắc mắc nào khác bạn có thể trực tiếp đến văn phòng của công ty chúng tôi vào giờ hành chính ở địa chỉ trụ sở Công ty luật Minh Khuê hoặc bạn có thể liên hệ với chúng tôi qua địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc gọi điện để được tư vấn qua tổng đài 1900.6162.

Trân trọng!

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ