Sau khi bị phát giác, nhân viên đó đã bỏ làm và đến nay chưa lên công ty bàn giao lại, dù đã được gọi điện, email thông báo nhiều lần. Số tiền biển thủ có chứng từ chứng minh là vào khoảng hơn 10 triệu đồng. Số tiền tuy không lớn nhưng công ty tôi muốn xử lý nghiêm minh vụ việc này để răn đe các nhân viên khác không bao giờ có ý định vi phạm. Vậy tôi viết email này muốn nhờ các vị luật sư từ luật Minh Khuê tư vấn: - Hành vi vi phạm của nhân viên kia đã đủ cấu thành phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa? - Để khởi tố cá nhân đó, chúng tôi cần làm những thủ tục gì? Phía luật Minh Khuê có thể hỗ trợ chúng tôi trong quá trình khởi tố cá nhân vi phạm này hay không? Chân thành cảm ơn!

Người gửi: T.N.T

Câu hỏi được biên tập từ Chuyên mục tư vấn Luật Hình sự - Công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn về hành vi biền thủ công quỹ của nhân viên kinh doanh ?

Luật sư tư vấn Luật Hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề mà bạn thắc mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung 2009

2. Nội dung tư vấn

Theo quy định tại Điều 141 Bộ luật hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì:

"Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."

Để xét xem hành vi mà nhân viên kinh doanh của công ty bạn thực hiện có cấu thành tội phạm hình sự hay không, chúng tôi xin được phân tích cấu thành tội phạm về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Về chủ thể của tội phạm

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 140 thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 140 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

Vì vậy, trường hợp này nhân viên kinh doanh của công ty bạn chiếm đoạt số tiền 10 triệu đồng, thuộc vào khoản 1 của điều luật, nếu người này đủ 16 tuổi trở lên thì phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tội này.

Về khách thể

Khách thể của tội này là  quan hệ sở hữu, ở đây, nhân viên kinh doanh công ty bạn đã xâm phạm tới số tiền của khách hàng chuyển giao cho công ty, nghĩa là xâm phạm tới quyền sở hữu của công ty đối với số tiền này.

Mặt khách quan của tội phạm

- Hành vi: bao gồm các giai đoạn:

+) Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc hợp đồng khác

+) Sau khi có được tài sản, người phạm tội không thực hiện như cam kết trong hợp đồng, sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp của bạn, nhân viên kinh doanh này đã có được tài sản một cách hợp pháp thông qua giao dịch với khách hàng, cụ thể là tiền thu phí dịch vụ. Nhiệm vụ của nhân viên này phải là bàn giao số tiền đấy cho công ty nhưng người này lại có hành vi chiếm đoạt, không trả lại tài sản. Tức là đã lạm dụng sự tin tưởng của công ty để thực hiện hành vi chiếm đoạt, nếu không phải là nhân viên kinh doanh của công ty, người này sẽ không thể được nhận số tiền phí dịch vụ trên từ khách hàng.

- Hậu quả: người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản, hoặc đã bỏ trốn, hoặc không còn khả năng trả lại tài sản.

Người phạm tội chiếm đoạt được tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên, nếu tài sản có giá trị dưới 4 triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm mới thì mới cấu thành tội phạm.

Số tiền mà nhân viên này chiếm đoạt là 10 triệu đồng, đủ điều kiện về mặt khách quan của tội phạm

Mặt chủ quan của tội phạm

Nhân viên kinh doanh thực hiện tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt với lỗi cố ý, và mục đích là mong muốn chiếm đoạt được số tiền trên.

Dựa vào những phân tích trên, để nhận biết nhân viên kinh doanh này đủ điều kiện cấu thành tội phạm với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 Bộ luật hình sự. Công ty bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan công an, để tố cáo hành vi của người này. Về mẫu đơn, bạn có thể tham khảo Mẫu đơn của công ty chúng tôi ở đây. Ngoài ra, bạn có thể sử dụng dịch vụ đại diện trong tố tụng của công ty chúng tôi hoặc dịch vụ tư vấn pháp lý để bảo vệ tốt nhất cho quyền lợi của công ty bạn.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự.