Vậy xin cho tôi hỏi trường hợp đó có quy vào tội môi giới lừa đảo lấy tiền không? Nếu muốn tố cáo người phụ nữ đó thì tố cáo ở đâu? (chị này một năm về Việt Nam 1 hoặc 2 lần).

Mong Luật sư tư vấn giúp! Tôi xin chân thành cảm ơn! 

Người gửi: N.K.T

Câu hỏi được biên tập từchuyên mục tư vấn luật hình sự của Công ty luật Minh Khuê.

Tư vấn về hành vi môi giới hôn nhân với mục đích bất chính

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng công ty luật Minh Khuê! Với câu hỏi của bạn chúng tôi xin phép được tư vấn như sau:

 

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi năm 2009

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003

Nội dung tư vấn:

Theo như nội dung thư mà bạn trình bày,  em bạn bị một người phụ nữ lừa 300 triệu kết hôn với người chồng của người phụ nữ đó ở Hong Kong. Nay chồng của chị ta đang muốn ly hôn em gái bạn và cho về nước. Theo quy định của Bộ luật hình sự 1999, không có tội danh nào được quy định là tội môi giới lừa đảo lấy tiền mà hành vi của người phụ nữ đó có thể xác định với tội danh là lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tạo điều 139 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi năm 2009

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một  trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây,  thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân.

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Có thể thấy, người phụ nữ môi giới cho em gái bạn đã có thủ đoạn lừa dối để chiếm đoạt tài sản khi môi giới cho em bạn lấy chồng của chị  ta sau đó tìm cách đưa em bạn về nước để chiếm đoạt 300 triệu đồng. Với giá trị tài sản lừa đảo lên đến 300 triệu đồng, hành vi của người phụ nữ này có thể phải chịu khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999 với khung hình phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. Mức cụ thể sẽ do thẩm phán quyết định căn cứ vào các tình tiết và hậu quả xảy ra trên thực tế.

Do đó, trong trường hợp này, bạn hoặc em bạn có thể tố giác hành vi vi phạm của người phụ nữ này tại cơ quan có thẩm quyền để họ tiến hành điều tra, xác minh, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho em bạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003:

"Điều 84. Tố giác và tin báo về tội phạm.
Công dân có thể tố giác tội phạm với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án hoặc với các cơ quan khác của Nhà nước hoặc tổ chức xã hội. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.
Cơ quan hoặc tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát bằng văn bản."

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

Trân trọng./.

BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ.