Sau khi lấy tièn tôi xong chi trả tôi được 8 lần mỗi lần góp 5 triệu /5 ngày tra 1 lần, vì trước khi mượn tôi nói mỗi ngày góp 1triệu chị đồng ý nhưng sau 8 lần trả chị bảo tôi cho mượn thêm 120 triệu chị đi lấy hàng rồi bán xong 15 ngày chị trả tôi số tiền 120triệu và cũng có ghi giấy lần sau này nữa ! Và tới ngày chỉ lại hẹn tôi cuối tháng chị sẽ trả em luôn cho đủ 120tr vì bữa giờ bán ế (theo lời chị nói ) tôi cũng cho cuối tháng sau đó đến ngày trả chị nói sáng mai chị chuyển vì nay chủ nhật và 11h khuya đem đó chị nhắn tin tôi là chị đổ nợ không có khả năng trả em lấy shop chị đi! Chị bỏ đi luôn rồi và tôi không liên lạc với chỉ được! Hiện tại mẹ và em gái chị gọi kêu tôi lên lấy shop chứ không nguoi khác lấy nhưng tôi nghĩ số tiền 2 lần mượn của tôi là 400 triệu cái shop chỉ tôi thấy không có gì giá trị ,nên tôi quyết không lấy và nói với gia đình chỉ nếu chị không trả tiền cho tôi, tôi sẽ kiện chị và cho tôi hỏi trong trường hợp vậy tôi kiện chị đó có hợp lý không? Và chị sẽ bị về tội gì? Tôi xin cảm ơn!

Câu hỏi được Biên tập từ Chuyên mục Tư vấn Luật Hình sự - Công ty Luật Minh Khuê

Tư vấn về khởi kiện khi vay tiền kinh doanh không trả nợ ?

Luật sư tư vấn Luật Hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Đối với vấn đề của bạn chúng tôi xin được tư vấn như sau:

 

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật Dân sự năm 2005

Bộ luật Hình sự năm 1999

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2009

2. Nội dung tư vấn

Theo quy định tại Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 thì:

"Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

Theo như quy định trên, thì khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ phải trả nợ cho bạn. Nếu như người này đến hạn không thể trả nợ, mà giữa bạn và người đó không có thỏa thuận nào khác thì lúc này, dựa trên giá trị của tài sản vay mà bên vay có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp của bạn, khi chị kia không có khả năng trả nợ thì bạn có thể thỏa thuận để nhận lại cửa hàng quần áo kia với giá trị 2 bên tự thỏa thuận. Nếu bạn muốn nhận lại cửa hàng với giá 280 triệu đồng như ban đầu chị kia dùng để mở cửa hàng, thì số giá trị còn lại: 120 triệu còn lại chị kia có nghĩa vụ phải trả lại cho bạn. Trong trường hợp không trả, bạn có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết để buộc chị này phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bạn. 

Hơn nữa, hành vi mà chị hàng xóm vay tiền bạn mà không trả còn có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Điều luật này quy định như sau: "1.Người nào có một trong những hành vi sau đây: Chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm"

Để bạn được rõ hơn, chúng tôi xin được phân tích cấu thành tội phạm như sau:
1.    Hành vi khách quan:

Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt là hành vi cố ý chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc của một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm bằng thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm
* Đặc điểm của hành vi chiếm đoạt tài sản:

- Hành vi làm cho chủ tài sản mất khả năng thực hiện quyền sở hữu đồng thời khả năng cho người phạm tội có thể thực hiện được việc chiếm giữ, sử dụng định đoạt trái pháp luật tài sản đó.

- Đối tượng của hành vi: hành vi chiếm đoạt xảy ra khi đối tượng tác động phải nằm trong sự quản lý của chủ sở hữu. Trường hợp tài sản của chủ sở hữu bị thất lạc thì không được coi là đối tượng của hành vi này.

- Lỗi cố ý trực tiếp: người phạm tội biết tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác và đang trong sự quản lý của họ nhưng vẫn thực hiện hành vi chiếm đoạt và mong muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm.

* Thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm các dấu hiệu:

- Người phạm tội có sẵn hoặc tạo ra tín nhiệm đối với chủ tài sản để có tài sản một cách hợp pháp bằng một hợp đồng như vay, mượn, thuê tài sản hoặc vận chuyển, gia công, bảo vệ hàng hóa...

- Sau khi có tài sản người phạm tội không thực hiện nghĩa vụ tài sản theo hợp đồng mà có ý định chiếm đoạt tài sản đó bằng một trong các thủ đoạn:

+ Gian dối

+ Bỏ trốn

+ ....

Trong trường hợp của bạn, có thể thấy, người vay tài sản trước đó nhờ có sự tin tưởng giữa 2 người mà đã xác lập được hợp động vay tài sản với bạn qua các lần vay với tổng giá trị là 400 triệu đồng. Nhưng sau đó vì kinh doanh thua lỗ nên có hành vi trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bạn. Như vậy, hành vi này có thể cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Xâm phạm quyền sở hữu của bạn với số tiền trên. Lúc này, nếu bạn làm đơn tố cáo tới cơ quan công an về hành vi của chị này thì người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trên. Theo đó, ngoài nghĩa vụ bắt buộc phải trả nợ cho bạn ra thì chị này còn phải chấp hành hình phạt tù.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

Trân trọng ./.

Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự.