Người hỏi: Đ.T.H

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn về tội đánh bạc

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:  1900.6162

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc tới công ty Luật Minh Khuê chúng tôi, vấn đề bạn đưa ra tôi xin trả lời như sau:

Cơ sở pháp lý:

Bộ luật hình sự năm 1999 

- Bộ luật hình sự sửa đổi bổ, sung năm 2009 

- Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 

- Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình

Nội dung tư vấn:

Căn cứ Điều 248 Bộ luật hình sự quy định: "

1. Người nào đánh bạc dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 249 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt  tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi  triệu đồng."

Tuy nhiên, trong trường hợp này chồng bạn bị bắt khi đang đánh bạc ngoài đường, chưa có tiền án tiền sự, trong nguời có 300.000 đồng. Nếu cơ quan chức năng chứng minh được số tiền này sử dụng vào mục đích đánh bạc thì chồng bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính. Cụ thể như sau:

Căn cứ nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với các hành vi đánh bạc như đánh bạc trái phép dưới các hình thức: xóc đĩa, tá lả, tổ tôm, tú lơ khơ, tam cúc, ba cây... hoặc các hình thức khác mà được, thua bằng tiền, hiện vật.

Vì vậy chồng chị sẽ bị áp dụng nghị định 167/2013/NĐ-CP về hành vi của mình.

Về thời gian tạm giam

Căn cứ tại Khoản 1 Điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về thời hạn tạm giam để điều tra, cụ thể là:
" Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng."

Trường hợp chồng bạn có thể bị tạm giam không quá 2 tháng để điều tra, tùy theo mức độ hành vi phạm tội.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự.