- Giấy sang nhượng đất vĩnh viễn ngày: 08/03/2011
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện Bình Chánh, Tp.HCM cấp ngày: 14/08/2000.

Bà A có cam kết: Khi nào tôi muốn xây dựng nhà thì bà sẽ nói với ông: B – Năm sinh: 1966, CMND số: 03....., Cấp ngày 26/11/2004, tại TPHCM. Hiện cư ngụ tại: P. Bình Hưng Hòa B, Q. Bình Tân, TPHCM. Làm thủ tục tách thửa ra chủ quyền cho tôi. Lúc mua tôi có thắc mắc sao trên giấy sang nhượng đất vĩnh viễn ông B đứng tên bên bán thì bà A giải thích: vì chưa xong giấy tờ nên khi nào ông B sang tên cho bà A thì bà A sẽ đổi lại giấy sang nhượng đất đúng tên bán là bà A cho tôi. Vì tin lời của bà A, tôi đồng ý mua thửa đất và đã giao đủ số tiền nêu trên, địa điểm giao tiền tại Bình Hưng Hòa B, vào ngày, 08/03/2011.

Nhưng đến ngày 30/10/2013 tôi có đến xem lại thửa đất đã mua để dự tính xây nhà thì mới được ông B cho biết: ông không có mua bán đất gì với bà A, đất vẫn là của ông, vì vậy ông B không đồng ý cho tôi được xây dựng trên thửa đất và Ông B xác nhận với tôi chữ ký và dấu vân tay trên Giấy sang nhượng đất vĩnh viễn ngày 08/03/2011 của tôi là không phải chữ ký và dấu vân tay của ông. Sau đó, tôi đã tìm và liên lạc bà A để làm rõ sự việc nêu trên, nhưng từ đó đến nay bà A đã lẫn trốn. Với trình bày trên đây tôi kính mong Quý Cơ quan xem xét, điều tra vụ việc đối với bà A về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tôi tin rằng không chỉ mình tôi mà còn nhiều người khác nữa đã bị bà A dùng thủ đoạn trên để chiếm đoạt tài sản. Rất mong được quý cơ quan xem xét, giải quyết để bảo vệ quyền lợi của tôi đang bị xâm hại và có biện pháp trừng trị thích đáng đối với hành vi xem thường pháp luật của bà A. Vậy nội dung của đơn này có phải là lừa đảo không? Mong luật sư giải đáp giúp em. Xin chân thành cám ơn.

Người gửi: T.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục Tư vấn luật hình sự của Công ty Luật Minh Khuê.

>> Luật sư tư vấn pháp luật về tội lừa đào tài sản gọi: 1900 6162

 

Trả lời

Chào bạn! Công ty Luật Minh Khuê đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi tới công ty. Vấn đề của bạn, công ty xin giải đáp như sau:

1. Căn cứ pháp lý: 

Bộ luật hình sự 1999;

Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009.

Bộ luật hình sự năm 2015;

2. Nội dung phân tích:

 Khoản 1 Điều 139 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung 2009 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm”.

Thủ đoạn gian dối ở đây được hiểu là việc đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động … (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.

Chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt này là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.

Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc kẻ phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản bị mắc lừa giao tài sản cho kẻ phạm tội hoặc không nhận tài sản đáng lẽ phải nhận.

Dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản, hoặc đó chỉ là quan hệ dân sự.

Theo thông tin mà bạn cung cấp, năm 2011 bạn có giao cho bà A 207.900.000 đồng để mua một lô đất có diện tích 63m2  tọa lạc tại 1 phần đất thửa đất số 95-96, thuộc tờ bản đồ số 13.., Xã Vĩnh Lộc B, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh. Bà A có cam kết, khi nào bạn muốn xây nhà thì bà sẽ nói với ông B làm thủ tục tách thửa cho bạn. Lúc mua bạn cũng  có thắc mắc sao trên giấy sang nhượng đất vĩnh viễn ông B đứng tên bên bán thì bà A giải thích: vì chưa xong giấy tờ nên khi nào ông B sang tên cho bà A thì bà A sẽ đổi lại giấy sang nhượng đất đúng tên bán là bà A cho tôi. Vì tin lời của bà A, bạn đồng ý mua thửa đất và đã giao đủ số tiền nêu trên.

Như vậy, xét về mặt khách quan, bà A đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt toàn bộ số tiền mua đất hơn 200 triệu đồng của bạn. Cụ thể, bà A đã làm giả giấy chứng nhân quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Bình Chánh, thành phố Hồ chí Minh cấp ngày 14 tháng 08 năm 2000 ; mặt khác bà A còn dùng lời lẽ khác để làm cơ sở cho bạn tin tưởng, giao tiền cho bà A.

Xét về mặt chủ quan, bà A thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.

Xét về mặt khách thể, hành vi trên đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bạn và của ông B.

Xét về mặt chủ thể, bà A là người hoàn toàn có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.

Từ những dâu hiệu trên, việc làm của bà A đã cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Khoản 2 Điều 139 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung 2009. Hiện tại thì bà A đã lẩn trốn.

Bạn có thể trình báo sự việc phạm tội của bà A tới cơ quan công an nơi mà bạn đang cư trú hoặc nơi bà A thường trú để được giải quyết.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty chúng tôi.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê